|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 941/2024/HC-PT Ngày: 30-8-2024 “V/v khiếu kiện quyết định hành chính trong quản lý Nhà nước về đất đai. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn An
Các thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thúy Hòa
Ông Trần Văn Đạt
- Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Hữu Trung – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Phạm Ba Duy – Kiêm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 506/2024/TLPT-HC ngày 31 tháng 5 năm 2024 về việc “khiếu kiện quyết định hành chính trong quản lý Nhà nước về đất đai”. Do Bản án hành chính sơ thẩm số 24/2024/HC-ST ngày 08 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 2601/2024/QĐ-PT ngày 02/8/2024 giữa các đương sự:
- - Người khởi kiện: ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1956. Địa chỉ: số A thôn G, xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
- Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: ông Đinh Văn S, sinh năm 1974; ông Phạm Quốc V, sinh năm 1987. Địa chỉ: E P, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
- - Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện D. Địa chỉ: số D T, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
- Người đại diện theo pháp luật: ông Trần Đức C - Chủ tịch.
- Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Thế H - Phó chủ tịch (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: ông Nguyễn Viết H1 - Trưởng phòng Tài nguyên và môi trường huyện D (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Trần Công N, sinh năm 1975; bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1985. Địa chỉ: thôn G, xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
- - Người kháng cáo: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Công N, bà Nguyễn Thị T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 18/12/2023, bản tự khai và quá trình tố tụng người khởi kiện ông Nguyễn Văn G trình bày:
Ông Nguyễn Văn G sử dụng diện tích đất trồng cà phê khoảng 15.312,7m² thuộc thửa 57, tờ bản đồ số 41, xã G (bản đồ đo đạc năm 2016); trong tổng diện tích đất này mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các thửa 01, 02, 138, 139, tờ bản đồ 33B, xã G với tổng diện tích là 9.735m² tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 636462 ngày 15/12/1995 do UBND huyện D cấp cho ông Nguyễn Văn G. Thửa đất của ông có một mặt giáp thửa số 522, tờ bản đồ số 33D (nay là thửa 78, tờ bản đồ số 41) xã G của ông Trần Công N và bà Nguyễn Thị T.
Để vào đất của ông, từ trước đến nay tồn tại một lối đi chiều rộng khoảng 2,5m ngang qua thửa đất của ông N bà T.
Vào khoảng tháng 10/2022, xảy ra tranh chấp giữa hai bên nên ông N bà T đã chôn cọc một phần lối đi này gây khó khăn cho việc đi lại vào vườn của ông.
Tháng 11/2023, qua thu thập chứng cứ, ông G được biết con đường mà ông và mọi người đi lại từ trước năm 1990 đến nay đã được UBND huyện D cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 933102 ngày 06/9/2012 cho ông Trần Công N và bà Nguyễn Thị T tại thửa đất số 522, tờ bản đồ số 33D (nay là thửa 78, tờ bản đồ số 41) xã G, huyện D.
Việc UBND huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nêu trên cho ông Trần Công N và bà Nguyễn Thị T là không đúng hiện trạng, đối tượng sử dụng đất vì đã cấp trồng lên đất đường đi chung.
Do vậy, ông Nguyễn Văn G khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng giải quyết:
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 933102 ngày 06/9/2012 do UBND huyện D cấp cho ông Trần Công N và bà Nguyễn Thị T đối với thửa đất số 522, tờ bản đồ số 33D (nay là thửa 78, tờ bản đồ số 41) xã G, huyện D.
Đại diện theo ủy quyền của người bị kiện UBND huyện D ông Nguyễn Thế H trình bày:
-
Trình tự thủ tục cấp Giấy chứng nhận số BL 933102 ngày 06/9/2012 tại
thửa 522, tờ bản đồ số 33D, xã G, huyện D:
Ông Trần Công N và bà Nguyễn Thị T đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được UBND huyện D cấp Giấy chứng nhận số BL 933102 ngày 06/9/2012 tại thửa 522 (33D) diện tích 2.450m², loại đất CLN. Hồ sơ địa chính thể hiện chưa đăng ký biến động.
Trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận cho ông Trần Công N và bà Nguyễn Thị T được thực hiện theo quy định của Luật đất đai năm 2003 và trên cơ sở bản đồ địa chính đo đạc năm 1995.
-
Quan điểm của UBND huyện D đối với yêu cầu của ông Nguyễn Văn G:
Đối với Giấy chứng nhận số BL 933102 ngày 06/9/2012 cấp cho ông Trần Công N và bà Nguyễn Thị T được UBND huyện D cấp theo trình tự thủ tục quy định tại Luật đất đai 2003.
Nay, ông Nguyễn Văn G yêu cầu hủy Giấy chứng nhận trên, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết theo quy định. Trường hợp giấy chứng nhận nêu trên được cấp không đúng quy định của pháp luật thì UBND huyện D thống nhất với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn G.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Công N và bà Nguyễn Thị T trình bày: năm 2012, ông bà mua đất tại khu vực này, sau đó làm thủ tục cấp GCNQSD đất thửa 522, tờ bản đồ 30D xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; diện tích 2.450m² đất trồng cây lâu năm. Khi mua hiện trạng có lối đi nhỏ đúng như ông Nguyễn Văn G trình bày là đi dưới tán 02 hàng cây cà phê. Năm 2012, ông G xin mở rộng lối đi để đổ bê tông thuận tiện cho cả hai bên vì vợ chồng ông bà cũng có 01 thửa đất khác ở phía trong cũng phải sử dụng con đường này để đi vào. Đến năm 2022, ông Nguyễn Văn G tiếp tục xin ông bà 01 hàng dâu và 01 cây cà phê để mở rộng đường đi như hiện tại bây giờ. Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn G yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông bà thì ông bà không đồng ý.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 24/2024/HC-ST ngày 08 tháng4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn G về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong quản lý Nhà nước về lĩnh vực đất đai”.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 933102 ngày 06/9/2012 do UBND huyện D cấp cho ông Trần Công N và bà Nguyễn Thị T đối với thửa 522, tờ bản đồ 33D tại xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật đương sự liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng hiện trạng, đối tượng sử dụng và pháp luật về đất đai.
Đối với các giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất nếu có tranh chấp do các bên tự thỏa thuận giải quyết; trường hợp không thỏa thuận được thì có quyền khởi kiện vụ án dân sự theo thủ tục chung.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sở thẩm, ngày 19/4/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Công N, bà Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông G.
Trong phần tranh luận:
Ông Trần Công N trình bày: giữ nguyên nội dung trong đơn kháng cáo, diện tích con đường rộng 2,5m là không đúng, hiện nay không có ai đi trên đường này; ông G cho rằng không có đường đi nào khác ngoài con đường này là không đúng; ông G cho rằng con đường này có từ lâu thì đề nghị cung cấp hồ sơ, giấy tờ để chứng minh. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện.
Ông Nguyễn Văn G trình bày: bản án sơ thẩm xét xử là đúng pháp luật; con đường là lối đi chung của các hộ dân đi làm vườn đã có từ lâu, và hiện nay vẫn còn tồn tại. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông N, bà T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Lâm Đồng đã cấp cho ông N, bà T là trùng lên diện tích con đường đi chung của các hộ dân đã tồn tại trên đất từ lâu. Ông N, bà T có kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Công N, bà Nguyễn Thị T còn trong hạn luật định và hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 225 Luật tố tụng hành chính, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[2] Về đối tượng, thời hiệu khởi kiện, thẩm quyền giải quyết, tư cách người tham gia tố tụng, Tòa án cấp sơ thẩm xác định là có căn cứ theo quy định pháp luật.
[3] Xét quyết định hành chính là đối tượng khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã thu thập được các tài liệu, chứng cứ thể hiện:
[3.1] Ngày 06/9/2012, UBND huyện D cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 933102 cho ông Trần Công N và bà Nguyễn Thị T đối với thửa 522, tờ bản đồ 33D, diện tích là 2.450m², đất trồng cây lâu năm tại xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
[3.2] Tại biên bản làm việc ngày 25/11/2022 của UBND xã G (BL 88) thể hiện:
“Qua kiểm tra hiện trạng đường đi vào đất của ông Trần Công N có chiều rộng là 1,5m, chiều dài là 55,5m, tiếp vào đất của ông Nguyễn Văn G đến giáp ranh đất của ông Trần Công N có chiều rộng là 1,5m, chiều dài là 143,5m.
Qua ghi nhận ý kiến của các hộ dân như sau:
Ý kiến trình bày của ông Nguyễn Văn G: con đường được hình thành từ năm 1954, tại thời điểm đó con đường chỉ là đường nhỏ đi bộ vào khu vực sản xuất đến năm 2007 ông Nguyễn Văn G có máy cày để chở phân bón, nông sản thì con đường được mở rộng 1,5m đi từ đất của ông Trần Công N vào đất của ông Nguyễn Văn G, đất của ông Nguyễn Văn G có nguồn gốc nhận chuyển nhượng của ông H2 từ năm 1991, tại thời điểm năm 1991 thì đã có con đường nói trên.
Ý kiến trình bày của bà Nguyễn Thị T (vợ của ông Trần Công N): Thửa đất có con đường đi qua được vợ chồng ông Trần Công N nhận chuyển nhượng từ ông N1 năm 2010, đến năm 2012 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại thời điểm nhận chuyển nhượng đất thì có con đường đi qua đất của vợ chồng ông bà vào đất của ông Nguyễn Văn G và vào đến đất phía trong của vợ chồng ông bà. Thửa đất phía trong giáp đất ông Nguyễn Văn G có nguồn gốc nhận chuyển nhượng từ ông Q, tại thời điểm nhận chuyển nhượng đất của ông Q thì có con đường đi vào đất của ông Nguyễn Văn G đến đất của ông Trần Công N như theo sơ đồ đã thể hiện.
Nguyên nhân dẫn đến việc tranh chấp:
Xuất phát từ mẫu thuẫn giữa ông Nguyễn Văn G và ông Trần Công N nên ông Nguyễn Văn G không cho ông Trần Công N đi trên đoạn đường có chiều dài 143,5m ngang qua đất ông G đang sử dụng, gây khó khăn cho việc đi lại vận chuyển nông sản (cà phê) của ông Trần Công N nên ông Trần Công N đã vào chặt, đào hố gây cản trở không cho ông Nguyễn Văn G đi qua đoạn đường 55,5m qua đất ông N để đấu nối vào đường đi vào khu sản xuất.
Ý kiến của người người dân có liên quan:
Bà Vũ Thị M là chủ sở hữu cũ đất của ông N, đất do bà M nhận chuyển nhượng năm 1987, lúc nhận chuyển nhượng đã có đường mòn, con đường rộng khoảng 2m và có khoảng hơn 10 hộ dân đi lại tại con đường này.
Ý kiến của ông Trần Văn T1:
Ông T1 là người biết được việc hình thành con đường. Con đường có từ năm 1984 đi khai phá đất thì con đường được sử dụng để đi lại, canh tác sử dụng đất phía trong.
Ý kiến của công chức địa chính:
Theo bản đồ đo đạc năm 1994 thì do con đường nhỏ nên không được thể hiện trên bản đồ. Đến năm 2016 thì khi đoàn đo đạc đo hiện trạng sử dụng đất do các hộ không có mặt để chỉ ranh nên đã không đo đạc để thể hiện con đường trên bản đồ”.
[3.3] Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 30/01/2024 (BL 67-69) thể hiện:
Hiện trạng: đường đất, bắt đầu nối từ đường đi chung đến thẳng vườn ông Nguyễn Văn G.
[3.4] Tại họa đồ đo vẽ lồng ghép hiện trạng sử dụng với bản đồ địa chính của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện D ngày 26/02/2024 (BL 58) thể hiện:
Diện tích đo vẽ theo hiện trạng là 132,2m² thuộc một phần thửa số 78, tờ bản đồ số 41, xã G (bản đồ đo mới).
Bản đồ cũ thuộc thửa 522, tờ bản đồ 33D, xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
[4] Với những tài liệu, chứng cứ và lời khai của những người làm chứng đã sinh sống lâu năm tại địa phương, Tòa án cấp sơ thẩm xác định Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BL 933102 ngày 06/9/2012 do UBND huyện D cấp cho ông Trần Công N và bà Nguyễn Thị T đối với thửa 522, tờ bản đồ 33D, xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng là không đúng hiện trạng, đối tượng sử dụng đất, chưa đảm bảo về trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[5] Ông Trần Công N và bà Nguyễn Thị T kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác so với cấp sơ thẩm nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Án phí hành chính phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên ông N, bà T phải chịu án phí theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 điều 241 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Công N, bà Nguyễn Thị T; giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 24/2024/HC-ST ngày 08 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Án phí hành chính phúc thẩm: ông Trần Công N, bà Nguyễn Thị T mỗi người phải chịu 300.000 đồng; được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu tiền số 0008900 và 0008901 ngày 25/4/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn An |
Bản án số 941/2024/HC-PT ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong quản lý nhà nước về đất đai
- Số bản án: 941/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: khiếu kiện quyết định hành chính trong quản lý Nhà nước về đất đai
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông G kiện UBND huyện D cấp GCNQSDĐ chồng lên diện tích đường công cộng đã tồn tại từ lâu
