|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:94/2024/HS-ST Ngày: 31-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Ngà
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lã Anh Tuấn
Bà Hoàng Thị Chính
- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 95/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 107/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo tại điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an thành phố H:
Bùi Quang H, sinh ngày 26 tháng 3 năm 1992 tại Hải Phòng; Nơi cư trú: T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Quang D, đã chết và bà Vũ Thị D1; có vợ là Mai Thị H1 và có 01 con, sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/03/2024, chuyển tạm giam ngày 02/4/2024; Có mặt.
Người tiến hành tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Bà Trần Thị Thu T - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.
Người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Ông Bùi Văn H2, ông Lê Văn S - Cán bộ Đội cảnh sát hỗ trợ tư pháp Công an quận K, thành phố Hải Phòng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 19 giờ ngày 26/3/2024, Bùi Quang H một mình đi xe ôm của một người đàn ông không quen biết đến khu vực đường T, quận L, thành phố Hải Phòng mua 200.000 đồng ma túy đá của một người phụ nữ không quen biết. Người phụ nữ này đưa cho H 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có 01 túi nilon chứa ma tuý đá. H cất vỏ bao thuốc lá chứa ma túy vào túi áo khoác bên phải đang mặc. Sau đó, H tiếp tục đi xe ôm của người đàn ông nêu trên sang địa bàn quận K để tìm chỗ sử dụng. Khoảng 20 giờ 40 phút, H đi xe ôm đến khu vực cổng chợ S1, phường L, quận K thì xuống xe. H trả tiền xe ôm và đi bộ đến khu vực đường M, phường L, quận K, thành phố Hải Phòng thì bị tổ công tác Công an quận K phối hợp cùng Công an phường V kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện H có cất giấu ma tuý nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tang vật thu giữ trong túi áo khoác bên phải H đang mặc, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có 01 túi nilon (kích thước 2x2cm) chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma tuý) và số tiền 100.000 đồng.
Kết luận giám định số 369/KL – KTHS (MT) ngày 31/3/2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: “Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,21 gam, là loại Methamphetamine. Đối tượng dương tính với ma tuý Methamphetamine”.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bùi Quang H ở tổ T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K không thu giữ được đồ vật, tài liệu liên quan.
Quá trình điều tra, Bùi Quang H khai nhận phù hợp nội dung trên. H cất giữ ma túy chỉ để sử dụng cho bản thân. H dương tính với ma túy Methamphetamine là do ngày 19/3/2024 H mua ma tuý của người đàn ông không quen biết ở khu vực đường T, quận L, thành phố Hải Phòng để sử dụng cá nhân, nhưng không nhớ địa điểm sử dụng. Số tiền 100.000 đồng, do H lao động mà có.
Tại bản Cáo trạng số 98/CT-VKSKA ngày 16 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An truy tố bị cáo Bùi Quang H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Bùi Quang H như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Quang H từ: 18 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù từ ngày 27/3/2024.
Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Bùi Quang H.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy số ma tuý còn lại cùng vỏ bao gói của mẫu được niêm phong trong 1 bì thư đóng dấu niêm phong số 369MT/PC09; Trả lại cho bị cáo H 100.000đ theo Uỷ nhiệm chi ngày 23/7/2024.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp để sớm trở về với cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và trong thời gian chuẩn bị xét xử, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-Về nội dung:
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định, biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận: Hồi 20 giờ 40 phút ngày 26/3/2024, tại khu vực đường M thuộc phường L, quận K, thành phố Hải Phòng, bị cáo Bùi Quang H có hành vi cất giấu trái phép 0,21 gam ma túy, loại Methamphetamine với mục đích sử dụng cá nhân thì bị phát hiện, bắt giữ quả tang. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết định khung hình phạt:
[3] Khối lượng ma tuý mà bị cáo Bùi Quang H tàng trữ là 0,21 gam ma túy loại Methamphetamine nên bị cáo bị xét xử theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
[4] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Ma túy là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Các loại tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng, gây lo lắng và bức xúc trong nhân dân. Do vậy, đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5] Về nhân thân: Bị cáo Bùi Quang H có nhân thân tốt, không tiền án, tiền sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng khi xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo.
- Về hình phạt:
[8] Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Bùi Quang H và ở trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[9] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định trước khi bị bắt nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
- Về vật chứng:
[10] Đối với số ma tuý còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói là vật cấm lưu hành, cấm sử dụng trái phép và vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 100.000đ cơ quan công an đã thu giữ của bị cáo H là tài sản do bị cáo lao động mà có, không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
- Về án phí và quyền kháng cáo:
[11] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
- Về các nội dung khác:
[12] Đối với người đàn ông làm xe ôm chở H, người đàn ông bán ma tuý cho H vào ngày 19/3/2024 và người phụ nữ bán ma tuý cho H vào ngày 26/3/2024 tại khu vực đường T, quận L, thành phố Hải Phòng, cơ quan điều tra công an quận K do chưa xác minh lai lịch, địa chỉ nên tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau là có căn cứ.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của H: Do H không nhớ địa điểm cụ thể mình sử dụng ma tuý nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K sẽ tiếp tục điều tra, xác minh, làm rõ, xử lý sau là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Bùi Quang H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Bùi Quang H: 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/3/2024.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Bùi Quang H.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:
Tịch thu tiêu hủy: Số ma tuý còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao bì được niêm phong trong 01 bì giấy, dấu niêm phong số 369MT/PC09 và chữ ký của những người có liên quan.
(Toàn bộ vật chứng có đặc điểm như tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng).
Trả lại nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Bùi Quang H số tiền 100.000 đồng theo uỷ nhiệm chi ngày 23/7/2024 giữa đơn vị trả tiền là Công an quận K với đơn vị nhận tiền là Chi cục thi hành án dân sự quận Kiến An.
3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Bùi Quang H phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo Bùi Quang H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Ngọc Ngà |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Lã Anh Tuấn Hoàng Thị Chính |
Phạm Thị Ngọc Ngà |
Bản án số 94/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 94/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: có tội
