Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ LƯƠNG

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 94/2023/HS-ST

Ngày: 29/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Loan

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tuấn Trung

2. Ông Nguyễn Ngọc Ngư

Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Dương Văn Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 và ngày 29 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 86/2023/HSST ngày 31/10/2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đức H, tên gọi khác: không; sinh năm 1977 tại Thái Nguyên; Nơi thường trú: Xóm Đ, xã Ô, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Tự do (trước đây bị cáo là cán bộ địa chính đã bị kỷ luật buộc thôi việc); trình độ học vấn 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; Con ông: Nguyễn Ngọc Q, năm 1955; con bà Hoàng Thị G, sinh năm 1958 (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1980 (đã ly hôn năm 2018); bị cáo có 01 con sinh năm 2010. Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/8/2023, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên (có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Ông Đặng Chí C, sinh năm 1960 (đã chết); Địa chỉ thường trú: Tiểu khu L, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Người đại diện theo pháp luật của bị hại gồm:

  • + Bà Hoàng Thị L, sinh năm 1965 (có mặt);
  • + Anh Đặng Hoàng Q1, sinh năm 1987 (có đơn xin vắng mặt);
  • + Chị Đặng Thị Hoàng L1, sinh năm 1989 (có đơn xin vắng mặt);

Cùng địa chỉ thường trú: Tiểu khu L, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Đức H là cán bộ công chức địa chính – xây dựng tại UBND thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên theo quyết định số 7563/QĐ-UBND ngày 16/12/2015 của Chủ tịch UBND huyện P. Với chức năng nhiệm vụ Huấn được phân công có trách nhiệm hướng dẫn các hộ dân trên địa bàn thị trấn Đu các thủ tục về đất đai và xây dựng, trong đó có nội dung khi có nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất thì đăng ký với UBND thị trấn để lập hồ sơ, kê khai trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

Tháng 5 năm 2018 ông Đặng Chí C có nhu cầu xin chuyển đổi mục đích đối với diện tích 40m2 từ đất trồng lúa sang đất ở đô thị tại thửa 21 tờ bản đồ số 9 thị trấn Đ. Do thửa đất không nằm trong quy hoạch đã được HĐND-UBND tỉnh T phê duyệt được phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất của huyện P năm 2018 nên ngày 25/5/2018 hồ sơ của ông C bị trả lại. Phòng Tài nguyên và môi trường huyện P đã có văn bản trả lời và hướng dẫn ông C đăng ký với UBND thị trấn Đu để bổ sung và kế hoạch chuyển đổi mục đích sử dụng đất đợt cuối năm 2018.

Khoảng đầu tháng 6 năm 2018, ông C gặp Nguyễn Đức H là cán bộ công chức địa chính xây dựng của UBND thị trấn Đ, nhờ Huấn hướng dẫn và làm các thủ tục liên quan để chuyển đổi mục đích sử dụng khoảng 100m2 tại thửa 21 tờ bản đồ số 9 thị trấn Đ. Do tin tưởng H là cán bộ địa chính của thị trấn Đ, ông C nhờ H làm hết các thủ tục cần thiết, H tạm tính số tiền chuyển đổi mục đích quyền sử dụng đất của ông C hết khoảng hơn 100.000.000 đồng. Ngày 06/6/2018 tại nhà riêng của H ở tiểu khu L, thị trấn Đ ông C đã đưa cho H giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 21 tờ bản đồ 9 và đưa trước số tiền 80.000.000 đồng để nhờ H nộp tiền phí chuyển đổi mục đích sử dụng đất. H đã nhận đủ số tiền trên và viết giấy biên nhận với ông C có nội dung “...Tôi có nhận tiền của ông Đặng Chí C gửi để đi nộp giúp gia đình ông C số tiền 80.000.000 đồng ...”.

Sau khi nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và số tiền trên, H hướng dẫn ông C làm đơn đề nghị xin chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Sau đó H đã làm các thủ tục để UBND thị trấn Đu trình UBND huyện P về việc đăng ký kế hoạch sử dụng đất năm 2019 trình UBND huyện P. Trên cơ sở tờ trình của các xã, thị trấn (trong đó có thị trấn Đ) ngày 09/10/2018 UBND huyện P đã có tờ trình gửi Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T về việc đề nghị phê duyệt kế hoạch sử dụng

đất năm 2019. Đến ngày 28/12/2018, UBND tỉnh T có quyết định số 4132/QĐ-UBND về việc phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2019 huyện P, trong đó có thửa 21 tờ bản đồ 9 thị trấn Đu được phép chuyển đổi mục đích sang đất ở diện tích 100m2.

Tuy nhiên trong thời gian chờ các cấp có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch, quy hoạch chuyển đổi mục đích sử dụng của huyện P đợt cuối năm 2018, H đã sử dụng hết toàn bộ số tiền 80 triệu đồng của ông C đưa vào việc cá nhân. Đến tháng 11 năm 2018 H tự ý bỏ việc, bỏ vào miền nam sinh sống. Ngày 16/01/2019 Nguyễn Đức H bị kỷ luật buộc thôi việc theo quyết định số 150/QĐ-UBND ngày 16/01/2019 của UBND huyện P.

Đến ngày 27/6/2019 ông C làm đơn trình báo sự việc với cơ quan điều tra, đề nghị giải quyết. Huấn bỏ đi khỏi địa phương từ tháng 11 năm 2018 đến cuối năm 2022 thì về địa phương.

Tại kết luận giám định số 970/KL-KTHS ngày 31/7/2023 của phòng K Công an tỉnh T kết luận chữ viết và chữ ký Nguyễn Đức H trên tờ giấy biên nhận tiền và chữ viết, chữ ký trong các bản tự khai của H là do cùng một người viết ra.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Đặng Chí C yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 80.000.000 đồng nhưng bị cáo H chưa hoàn trả được cho ông C khoản tiền nào.

Vật chứng của vụ án: 01 tờ giấy A4 đề ngày 06/6/2018 có nội dung Nguyễn Đức H nhận 80.000.000 đồng của ông Đặng Chí C được lưu theo hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 83/CT-VKSPL ngày 30/10/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định truy tố Nguyễn Đức H về tội “Lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 355 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận diễn biến hành vi phạm tội đúng như cáo trạng truy tố. Đại diện hợp pháp của bị hại giữ nguyên quan điểm yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 80 triệu đồng. Bị cáo nhất trí trả lại số tiền đã chiếm đoạt cho gia đình bị hại.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 355, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức H từ 36 đến 42 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải trả lại cho những người đại diện hợp pháp của ông Đặng Chí C số tiền 80.000.000 đồng. Đề nghị buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận: Bị cáo, bị hại không có ý kiến tranh luận, bị cáo không có quan điểm bào chữa. Trong lời nói sau cùng: Bị cáo nói lời sau cùng thể hiện ăn năn hối cải, xin lỗi gia đình bị hại và xin được giảm nhẹ hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức H, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trên cơ sở các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở tranh tụng tại phiên toà, HĐXX thấy rằng đủ cơ sở kết luận:

Ngày 06/6/2018 với vai trò là công chức địa chính – xây dựng của UBND thị trấn Đ, huyện P. Bị cáo Nguyễn Đức H đã sử dụng vượt quá quyền hạn, chức trách nhiệm vụ được giao, tuy không có quyền hạn trong việc nhận hoặc nộp các khoản tiền là chi phí chuyển đổi mục đích sử dụng đất nhưng bị cáo đã có hành vi nhận của ông Đặng Chí C số tiền 80.000.000 đồng và viết giấy cho ông C có nội dung “...Tôi có nhận tiền của ông Đặng Chí C gửi để đi nộp giúp gia đình ông C số tiền 80.000.000 đồng ...” Sau khi nhận số tiền trên, H đã sử dụng chi tiêu vào mục đích cá nhân hết. Ông C đã liên hệ với H nhiều lần để đòi lại tiền nhưng sau đó H bỏ việc tại cơ quan và bỏ đi khỏi địa phương. Hiện nay bị cáo chưa trả lại cho ông C số tiền 80.000.000 đồng đã chiếm đoạt.

[3] Như vậy có đủ căn cứ xác định: Hành vi của Nguyễn Đức H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 355 của Bộ luật hình sự, “1. Người nào lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng ... thì bị phạt tù từ 01 năm đến 06 năm”. Bản Cáo trạng số 83/CT-VKSPL ngày 30/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Nguyễn Đức H về tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Xét tính chất hành vi phạm tội có bị cáo có tính chất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành

chính nhà nước, làm mất uy tín của cơ quan nhà nước, suy giảm lòng tin của nhân dân. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, không có đồng phạm khác.

[5] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bố đẻ bị cáo là ông Nguyễn Ngọc Q được tặng thưởng Huy chương chiến sỹ vẻ vang do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo nguyên là cán bộ địa chính đã từng công tác tại nhiều đơn vị, trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt. Tuy nhiên năm 2012, do thiếu tinh thần trách nhiệm, không thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, lợi dụng vị trí việc làm cố ý làm trái pháp luật, vi phạm nghiêm trọng nội quy, quy chế của cơ quan, bị cáo đã bị kỷ luật hạ bậc lương. Đến cuối năm 2018 bị cáo tự ý nghỉ việc tại cơ quan do đó bị kỷ luật buộc thôi việc.

[6] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ tội phạm do bị cáo thực hiện, sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo H trong phần luận tội là phù hợp với tính chất, mức độ tội phạm do bị cáo thực hiện. Xét thấy bị cáo hiện đã bị kỷ luật buộc thôi việc, làm công việc tự do, không có thu nhập, vợ chồng đã ly hôn. Tại địa phương không có tài sản riêng, do đó Hội đồng xét xử thấy rằng không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[7] Về vật chứng: 01 tờ giấy A4 đề ngày 06/6/2018 có nội dung Nguyễn Đức H nhận 80.000.000 đồng của ông Đặng Chí C được lưu theo hồ sơ vụ án do đó không đặt ra xem xét.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Số tiền 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng) bị cáo đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết do đó cần buộc bị cáo trả lại số tiền 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng) cho những người đại diện hợp pháp của ông Đặng Chí C (gồm vợ là bà L và hai con là anh Q1 và chị L1).

[9] Án phí và quyền kháng cáo: Trong vụ án này bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật. Bị cáo, đại diện bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự:

  1. Tuyên bố Nguyễn Đức H phạm tội “Lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản” .
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 355, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự:

    Xử phạt Nguyễn Đức H 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 14/8/2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ 48 của Bộ luật hình sự buộc bị cáo Nguyễn Đức H có trách nhiệm trả lại cho những người đại diện theo pháp luật của ông Đặng Chí C (gồm bà Hoàng Thị L, chị Đặng Thị Hoàng L1 và anh Đặng Hoàng Q1) số tiền 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng).

    Kể từ ngày người được quyền yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, trường hợp bên có nghĩa vụ thi hành án chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS.

    Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326 của UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án:

    Buộc bị cáo Nguyễn Đức H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.

Án xét xử sơ thẩm công khai. Báo cho bị cáo, đại diện bị hại biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Phú Lương;
  • - Công an huyện Phú Lương;
  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Lương;
  • - Bộ phận THAHS;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Nguyễn Thị Thanh Loan

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 94/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm (lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 94/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cán bộ địa chính lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger