|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 94/2024/HNGĐ-ST
Ngày 29 - 9 - 2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Trương Trần Thanh Thư
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Huỳnh Sinh
- Bà Bùi Thị Út
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hoàng Vân– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang- Tháp Chàm,
tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Tường V – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang
- T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 410/2024/TLST-
HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly
hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28
tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 61/2024/QÐST-HNGĐ ngày
13 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Cổ Thị Hồng V1, sinh năm 1984; (Có mặt).
Nơi cư trú: Khu phố G, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Bị đơn: Ông Trần Thanh T, sinh năm 1977; (Vắng mặt).
Địa chỉ: Khu phố G, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn Khởi kiện, trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, nguyên
đơn là bà Cổ Thị Hồng V1 trình bày:
Bà và ông Trần Thanh T tiến đến hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký
kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, vào ngày 22/5/2009. Hôn nhân là hoàn
toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống chung với nhau tại nhà riêng ở
Khu phố G, phường Đ. Quá trình chung sống, vợ chồng không hạnh phúc, mâu
thuẫn bất đồng quan điểm về các vấn đề trong cuộc sống, có xích mích nhiều lần
và chuyện chăn gối không hòa hợp. Nay vợ chồng còn sống chung nhưng mạnh ai
nấy sống, không ai quan tâm đến ai, cũng không nói chuyện với nhau. Nay bà đã
không còn tình cảm vợ chồng với ông T, không thể tiếp tục duy trì hôn nhân nên
bà làm đơn đề nghị ly hôn với ông Trần Thanh T.
Bà và ông Trần Thanh T có hai người con chung tên là Trần Anh T1, sinh
ngày 04/8/2008 và Trần Bảo T2, sinh ngày 03/4/2012. Nếu ly hôn, bà đề nghị
được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay, bà
đang làm buôn bán, thu nhập khoảng 20.000.000 đồng/tháng nhưng không cố định
mà tùy theo tình hình buôn bán, đủ để lo cho con.
Về tài sản chung, nợ chung, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Bị đơn vắng mặt.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang- T, tỉnh Ninh Thuận
phát biểu ý kiến:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của
pháp luật tố tụng dân sự về việc xét xử vụ án.
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của đương sự: Nguyên đơn thực hiện
đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ
án
Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án:
- Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Cho bà Cổ Thị Hồng V1 được ly hôn với ông Trần Thanh T. Về con chung: Giao hai
con chung là Trần Anh T1, sinh ngày 04/8/2008 và Trần Bảo T2, sinh ngày
03/4/2012 cho bà V1 trực tiếp nuôi dưỡng. Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con
chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Bà Cổ Thị Hồng
V1 yêu cầu ly hôn với ông Trần Thanh T. Ông T cư trú tại Khu phố G, phường Đ,
thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều
35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) xác định đây
là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang- T, tỉnh Ninh Thuận.
[1.2] Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên
họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Biên bản
kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét
xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho ông T. Ông T vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ
điểm b khoản 2 điều 227 của BLTTDS, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị
đơn.
[2] Về Quan hệ hôn nhân:
[2.1] Quan hệ hôn nhân giữa bà Cổ Thị Hồng V1 và ông Trần Thanh T là hoàn
toàn tự nguyện, được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy Chứng nhận kết
hôn theo quy định của pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp.
[2.2] Quá trình chung sống, bà V1 cho rằng vợ chồng không hạnh phúc,
xảy ra nhiều mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm về các vấn đề
trong cuộc sống, vợ chồng tuy sống chung nhưng không ai quan tâm đến ai, mạnh
ai nấy sống. Nay tình cảm không còn, không thể quay trở về chung sống nên bà
V1 yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn. Tại tờ khai xác nhận tình trạng hôn nhân
ngày 09/8/2024, chính quyền địa phương xác định: tình trạng hôn nhân giữa bà
Cổ Thị Hồng V1 và ông Trần Thanh T có mâu thuẫn, bất hòa, không có tiếng nói
chung. Quá trình tố tụng, ông T không có ý kiến đối với yêu cầu của bà V1, cũng
không phản đối chứng cứ do bà V1 cung cấp (khoản 2 điều 92 của BLTTDS).
Tại phiên tòa, bà V1 xác định bà không còn tình cảm vợ chồng với ông T nữa, nếu
quay về chung sống thì cũng không có hạnh phúc, mâu thuẫn sẽ ngày một trầm
trọng hơn nên bà yêu cầu ly hôn với ông T.
[2.4] Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân của bà V1, ông T đã lâm vào tình
trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không
đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, cho bà V1 ly
hôn với ông T.
[3] Về nuôi con chung:
[3.1] Bà V1 và ông T có hai con chung là Trần Anh T1, sinh ngày 04/8/2008 và
Trần Bảo T2, sinh ngày 03/4/2012. Xét thấy: Nguyện vọng của hai con chung là
được sống cùng mẹ, bà V1 có thu nhập, chỗ ở để chăm sóc hai con. Để đảm bảo
sự phát triển về mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của
bà V1, giao cho bà V1 trực tiếp nuôi hai con chung.
[3.2] Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà V1 không yêu cầu.
[4] Các đương sự không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên
Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan
Rang- T, tỉnh Ninh Thuận là phù hợp nên chấp nhận.
[6] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của BLTTDS; điểm a
khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy
ban Thường vụ Q, nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều
39; Khoản 2 Điều 227; Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a
khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Áp dụng: Khoản 1 Điều 56, Các Điều 81, 82, 83
của Luật Hôn nhân và gia đình;
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Cổ Thị Hồng V1
đối với bị đơn ông Trần Thanh T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Cổ Thị Hồng V1 được ly hôn với ông Trần Thanh T.
2. Về con chung:
Giao cho bà Cổ Thị Hồng V1 có quyền và nghĩa vụ trực tiếp trông nom,
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung là Trần Anh T1, sinh ngày 04/8/2008
và Trần Bảo T2, sinh ngày 03/4/2012.
Ông Trần Thanh T không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con
chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm
nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng
việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án
hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí: Bà Cổ Thị Hồng V1 phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn
đồng) án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí
đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí Toà án
số 0002900 ngày 08-7-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang-
T, tỉnh Ninh Thuận. Bà Cổ Thị Hồng V1 đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9
Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Án xử công khai, có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15
ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 29-9-2024); vắng mặt bị đơn, quyền kháng cáo
trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trương Trần Thanh Thư |
Bản án số 94/2024/HNGĐ-ST ngày 29/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 94/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
