|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 94/2024/HS-ST Ngày: 28/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa : Ông Phạm Xuân Diễn.
Các Hội thẩm nhân dân :
- Ông Đàm Chí Thân ;
- Ông Vũ Khắc Hoàn.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Phương Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toàn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử, Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 80/2024/TLST-HS, ngày 09 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2024/QĐXXST- HS, ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, đối với bị cáo :
Lê Đức H (giới tính: nam), sinh ngày 19/9/1988, tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh;
Nơi cư trú: khu C, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: Lớp 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lê Đức H1 và bà Nguyễn Thị T, bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án:
Ngày 20/11/2020, Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (thực hiện ngày 04/8/2020). Ngày 19/2/2022, chấp hành xong bản án;
Ngày 27/10/2022, Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (giá trị tài sản dưới 2 triệu đồng). Ngày 03/6/2023, chấp hành xong bản án;
Ngày 01/02/2013, Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên xử phạt 18 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Ngày 20/4/2014, chấp hành xong bản án;
Ngày 22/4/2015, Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 05/6/2015, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc H phải chấp hành chung cho cả hai bản án là 39 tháng tù. Ngày 15/5/2018, chấp hành xong bản án.
+ Tiền sự: không có.
+ Nhân thân:
Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ ngày 24/4/2024, hiện tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
+ Bà Lê Thị B, sinh năm 1959; địa chỉ: khu D, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.
+ Anh Trần Vũ T1, sinh năm 1996; địa chỉ: khu C, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, bà B và anh T1 đều có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 07 phút, ngày 10/4/2024, do thiếu tiền tiêu xài nên Lê Đức H đi bộ lang thang dọc đường với mục đích tìm nhà dân sơ hở thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Khi đi bộ đến trước cửa nhà bà Lê Thị B tại số nhà B, đường A, khu D, phường Q, thị xã Q, phát hiện thấy nhà bà B không có ai trông coi, nên lén lút đi vào trong nhà, trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 13, màu đen và 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 6, màu trắng để trên ghế sofa tại phòng khách rồi nhanh chóng tẩu thoát.
Tiếp đó, khoảng 11 giờ 38 phút ngày 22/4/2024, H đi bộ quanh đường phố tại khu C, phường Q, thị xã Q. Khi H đi qua đường Q, phường Q thấy nhà anh Trần Vũ T1 tại khu C, phường Q, thị xã Q không khóa cửa, không thấy có ai ở nhà nên H đã đi vào trong nhà, lục lọi tìm tài sản trộm cắp. Khi lên đến tầng 3, H thấy có 06 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 05 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng (tổng số tiền 3.500.000 đồng) đặt trên đĩa tại bàn thờ nên H đã cầm và đút vào túi quần, rồi nhanh chóng tẩu thoát khỏi nhà anh T1. Số tiền trộm cắp nêu trên, H sử dụng tiêu sài cá nhân hết. Đến ngày 24/4/2024, nhận thức thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, H đầu thú.
Cơ quan điều tra tiến hành thu giữ dữ liệu điện tử, biên bản xem dữ liệu điện tử xác định khoảng 10 giờ 07 phút ngày 10/4/2024 tại nhà bà B và khoảng 11 giờ 38 phút ngày 22/4/2024 tại nhà anh T1, Lê Đức H có hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên.
Quá trình điều tra, bị cáo Lê Đức H khai nhận hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra còn khai sau khi trộm cắp tài sản tại nhà bà B, H cầm 02 chiếc điện thoại đi sang thành phố Hải Phòng để bán lấy tiền tiêu xài, quá trình di chuyển sang Hải Phòng, khi đi phà H làm rơi chiếc điện thoại nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 13 xuống dưới sông. Sau đó H bán chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu trắng cho một người không rõ lai lịch tại khu vực T, Hải Phòng với giá 300.000 đồng. Số tiền trên H dùng để mua ma túy sử dụng cho bản thân.
Bản kết luận định giá tài sản số 24/KL-HĐĐG ngày 25/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Q kết luận: Giá trị của 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu “Apple Iphone 6” màu trắng, mua mới năm 2019, đã qua sử dụng là 1.000.000 đồng; giá trị của 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu “Xiaomi Redmi Note 13” màu đen, mua mới tháng 01/2024, đã qua sử dụng là 4.275.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bà Lê Thị B yêu cầu Lê Đức H bồi thường số tiền 5.275.000 đồng, anh Trần Vũ T1 yêu cầu H bồi thường số tiền 3.500.000 đồng, hiện bị cáo H chưa bồi thường.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Đức H đã thừa nhận toàn bộ nội dung sự việc như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số 1717/CT-VKSQY, ngày 09/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, đã truy tố bị cáo Lê Đức H, về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa bị cáo Lê Đức H khai nhận như sau: do cần tiêu xài cá nhân nên khoảng 10 giờ 07 phút, ngày 10/4/2024 H đi bộ đến trước cửa nhà bà Lê Thị B tại số nhà B, đường A, khu D, phường Q, thị xã Q phát hiện nhà bà B không có ai trông coi, H lén lút đi vào trong nhà, trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 13, màu đen và 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 6, màu trắng để trên ghế sofa tại phòng khách. Tiếp đến khoảng 11 giờ 38 phút ngày 22/4/2024, H đi bộ qua nhà anh Trần Vũ T1 tại khu C, phường Q, thị xã Q thấy không khóa cửa, không thấy có ai ở nhà nên H đã đi vào trong nhà trộm cắp số tiền 3.500.000 đồng. Số tiền trộm cắp nêu trên, H sử dụng tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 24/4/2024 H đến cơ quan công an đầu thú.
Bị hại, bà Lê Thị B có lời khai xác nhận khoảng 10 giờ ngày 10/4/2024, trong lúc dọn nhà không quan sát được tầng dưới nên đã bị Lê Đức H vào nhà trộm cắp hai chiếc điện thoại di động, gồm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 13, màu đen và 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 6, màu trắng, bà đã trình báo cơ quan chức năng, nay bà yêu cầu Lê Đức H bồi thường giá trị hai chiếc điện thoại được định giá là 5.275.000 đồng.
Bị hại, anh Trần Vũ T1 có lời khai xác nhận khoảng 11 giờ 30 phút ngày 22/4/2024, anh bị kẻ gian vào nhà trộm cắp số tiền 3.500.000 đồng tại tầng 3 của gia đình, sau khi sự việc bị phát hiện anh mới biết đó là Lê Đức H đã trộm cắp, nay anh yêu cầu Lê Đức H bồi thường 3.500.000 đồng.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND thị xã Quảng Yên giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng; đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g,h Điều 52, Điều 38 BLHS xử phạt Lê Đức H từ 21 tháng tù đến 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 24/4/2024. Bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bà Lê Thị B 5.275.000 đồng; bồi thường cho anh T1 3.500.000 đồng, truy thu bị cáo 300.000 đồng sung ngân sách nhà nước; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo thừa nhận tội danh và hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.
Bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên tham gia trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự và bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, HĐXX khẳng định các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và căn cứ kết tội: tại phiên tòa, bị cáo Lê Đức H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa như Biên bản khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ bản ảnh hiện trường, Bản ảnh vật chứng, Biên bản kiểm tra xác định nơi xảy ra vụ việc, Bản kết luận định giá tài sản... đã có đầy đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 10 giờ 07 phút, ngày 10/4/2024, tại nhà bà Lê Thị B thuộc khu D, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, Lê Đức H đã trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 13, màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu trắng của bà B có tổng trị giá 5.275.000 đồng. Tiếp đó, khoảng 11 giờ 38 phút, ngày 22/4/2024, tại nhà anh Trần Vũ T1 thuộc khu C, phường Q, thị xã Q, Lê Đức H đã trộm cắp số tiền 3.500.000 đồng của anh T1.
Cáo trạng số 1717/CT-VKSQY, ngày 09/8/2024 của VKSND thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, đã truy tố bị cáo Lê Đức H là có căn cứ pháp luật.
Hành vi của Lê Đức H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 BLHS.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi của bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của Bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an địa phương. Bị cáo là người đã thành niên nhận thức được hành vi trộm cắp là vi phạm pháp luật, bị cáo có tiền án và nhân thân xấu đều liên quan đến hành vi chiếm đoạt tài sản không lấy đó làm bài học cho mình, nhưng do không chịu lao động lại muốn có tiền tiêu xài bị cáo vẫn cố tình thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự : bị cáo H phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g,h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngoài ra bị cáo đầu thú nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Mặc dù bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ nêu trên, xong khi xem xét HĐXX thấy rằng bị cáo tuy tuổi còn trẻ xong đã nhiều lần bị xử lý về hành vi trộm cắp tài sản thể hiện sự thiếu tu dưỡng, coi thường pháp luật, ngoài hành vi của vụ án này bị cáo còn có tiền án và nhân thân xấu, do đó HĐXX thấy cần phải áp dụng một mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội, cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Khi xem xét cần cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để vừa răn đe phòng ngừa chung vừa giáo dục đối với bị cáo và thể hiện tính nhân đạo của pháp luật nhà nước ta.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo H không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, HĐXX thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[3] Về trách nhiệm dân sự: bị hại, bà Lê Thị B yêu cầu bị cáo phải bồi thường 5.275.000 đồng, anh Trần Vũ T1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường 3.500.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo chấp nhận bồi thường theo yêu cầu của bị hại, cần buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền yêu cầu nêu trên.
[4] Về vật chứng của vụ án: sau khi trộm cắp tài sản tại nhà bà B, H sang thành phố Hải Phòng để bán 02 chiếc điện thoại di động lấy tiền tiêu xài, khi đi phà H làm rơi chiếc điện thoại nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 13 xuống sông, còn chiếc điện thoại di động Iphone 6 màu trắng H bán cho một người không rõ lai lịch tại khu vực T, Hải Phòng với giá 300.000 đồng, cơ quan điều tra không thu giữ được, HĐXX không đề cập giải quyết.
Đối với số tiền 300.000 đồng, Lê Đức H bán điện thoại do trộm cắp mà có, cần truy thu sung ngân sách nhà nước.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Lê Đức H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;
1. Về hình phạt :
Xử phạt: Lê Đức H 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 24/4/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự:
áp dụng khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự: buộc bị cáo Lê Đức H có trách nhiệm bồi thường cho bà Lê Thị B 5.275.000 đồng và bồi thường cho anh Trần Vũ T1 3.500.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Lê Đức H không tự nguyện thi hành số tiền trên thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng :
áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Truy thu bị cáo Lê Đức H 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) sung ngân sách nhà nước.
Đối với hai chiếc điện thoại di động bị cáo H trộm cắp của bà Lê Thị B, Cơ quan điều tra không thu hồi được, HĐXX không đề cập.
4. Về án phí và quyền kháng cáo:
áp dụng khoản 2 Điều 136; khoản 1, khoản 4 Điều 331; khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14, buộc bị cáo Lê Đức H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 438.750đ (bốn trăm ba mươi tám nghìn, bẩy trăm năm mươi đồng) án phí dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; báo cho bị hại biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Xuân Diễn |
Bản án số 94/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 94/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Đức Hải trộm cắp tài sản
