|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 94/2024/DS-ST Ngày: 28-6-2024 V/v tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất, lối đi qua bất động sản liền kề. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Quốc Thái.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đào Văn Hiến.
- Ông Nguyễn Văn Ánh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thống Nhất - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Trần Xuân Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 423/2021/TLST-DS ngày 29 tháng 11 năm 2021. Về việc “Tranh chấp dân sự về ranh giới quyền sử dụng đất; Lối đi qua bất động sản liền kề” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 113/2024/QÐST-DS, ngày 10 tháng 5 năm 2024; Quyết định tạm ngừng phiên toà số 48/2024/QÐST-DS, ngày 07 tháng 6 năm 2024; Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự số 42/TB-TA, ngày 21/6/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Dương Thị Bé T, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Ấp M, xã P, huyện T, Đồng Tháp.
- Bị đơn: 1. Anh Dương Tấn H, sinh năm 1988.
2. Ông Dương Văn N, sinh năm 1954.
Địa chỉ: Ấp M, xã P, huyện T, Đồng Tháp.
4
Người đại diện hợp pháp của ông N: Anh Dương Tấn H, sinh năm 1985, địa chỉ: Ấp M, xã P, huyện T, Đồng Tháp là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 25/01/2022).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Bé C, sinh năm 1957.
- Bà Dương Thị Kim E, sinh năm 1962.
- Ông Huỳnh Văn T1, sinh năm 1973;
- Chị Huỳnh Thị Thanh N1, sinh năm 2004;
- Anh Trần Văn Ú, sinh năm 1993.
- Bà Dương Thị H1, sinh năm 1960;
- Bà Dương Thị H2, sinh năm 1966;
- Bà Dương Thị L, sinh năm 1968;
- Bà Dương Thị Bé T2, sinh năm 1971;
Địa chỉ: Ấp M, xã P, huyện T, Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của bà Bé C1: Anh Dương Tấn H, sinh năm 1985, địa chỉ: Ấp M, xã P, huyện T, Đồng Tháp là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 25/01/2022).
Địa chỉ: Ấp M, xã P, huyện T, Đồng Tháp.
Cùng địa chỉ: Ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của ông T1, chị N1, anh Ú: Bà Dương Thị Bé T, sinh năm 1973; Địa chỉ: Ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp – Là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 22/3/2024).
Địa chỉ ấp A, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ khóm C, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
(Bà Bé T3 có mặt; Anh H, bà L vắng mặt; Bà Kim E, bà H1, bà H2, bà Bé T2 có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn bà Dương Thị Bé T trình bày và yêu cầu:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp thửa 1444 là do mẹ bà B T là cụ Bùi Thị T4 (mất năm 2017) nhận chuyển nhượng từ bà Mười C2 (đã chết), từ thời gian nào thì bà B T không biết cũng biết, sau đó cụ Thể cho anh chị em, nhưng do bà Kim E không nhận đất nên năm 2010, cụ Thể cho bà B Tám phần đất diện tích
5
1.044m², thửa 1444, tờ bản đồ số 2, tọa lạc ấp M, xã P, huyện T, hiện do bà Bé T3 đứng tên quyền sử dụng đất.
Cụ Thể có tổng cộng 03 đời chồng, người chồng đầu tên Nguyễn Văn A. Cụ Thể và cụ A có 04 người con gồm: Dương Văn N, Dương Thị H1, Dương Thị Kim E, Dương Thị H2. Sau khi cụ A chết thì cụ Thể kết hôn với chồng sau (không rõ họ tên, đã chết) và có 01 người con chung là bà Dương Thị L. Khi người chồng thứ hai chết thì cụ Thể kết hôn với cụ Nguyễn Văn L1, bà T4 và có 02 người con chung tên: Dương Thị Bé T2, Dương Thị Bé T.
Phần đất của ông Dương Văn N cũng được cụ Thể cho có vị trí phía sau hậu đất của bà Bé T3. Khi cụ Thể cho đất bà Bé T3 thì trên đất đã có lối đi ngang 01m, lối đi này do cụ Thể cho gia đình ông N sử dụng.
Trong quá trình sử dụng đất thì hộ ông N, anh H đã tự ý mở rộng lối đi ra ngang khoảng 3,5m và tự ý trồng cây trên đất như mít, khóm, sả.
Đối với phần đất thửa 1444, tờ bản đồ số 2 (bản đồ 299) nay đã được cấp đổi thành thửa 45, tờ bản đồ số 23 theo bản đồ chính quy với diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 806,4m², đất tọa lạc tại ấp M, xã P, huyện T, Đồng Tháp do bà Bé T3 đứng tên. Hiện nay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà Bé T3 đang giữ, không cầm cố thế chấp cho tổ chức tín dụng hay cá nhân nào.
Theo đơn khởi kiện, bà Bé T3 yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Dương Tấn H, ông Dương Văn N và bà Nguyễn Thị Bé C3 liên đới trả cho bà B T3 phần đất lấn chiếm có chiều ngang 3,5m, chiều dài 45,7m, diện tích 159,95m², thuộc một phần thửa 45, tờ bản đồ số 23, đất tọa lạc tại ấp M, xã P, huyện T, do chị Bé T3 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Yêu cầu anh Dương Tấn H, ông Dương Văn N và bà Nguyễn Thị Bé C3 liên đới trả cho bà B T3 phần đất lấn chiếm có chiều ngang 0,62m, dài 22,21m, diện tích khoảng 6,88m², thuộc một phần thửa 1444, tờ bản đồ số 2 (bản đồ 299) nay là tờ bản đồ số 23 theo bản đồ chính quy, đất tọa lạc tại ấp M, xã P, huyện T, Đồng Tháp do bà Bé T3 đứng tên.
Tại phiên hòa giải, bà Bé T3 vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình. Bà Bé T3 đồng ý cho hộ ông N, anh H lối đi ngang 1,5m, dài hết đất nhưng hộ ông N, anh H và bà Bé C1 phải trả giá trị đất theo quy định.
Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của bà Bé T3 gồm: Giấy chứng nhận QSDĐ, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (photo).
Đối với trụ đá giáp ranh với ông T5 thì do anh H và ông T5 tự ý trồng, khi trồng trụ đá không có mặt bà Bé T3.
Bà Bé T3 thống nhất với phụ lục sửa đổi, bổ sung sơ đồ đo đạc ngày 27/6/2024 và kết quả định giá của Hội đồng định giá theo Biên bản định giá ngày 12/4/2024.
6
Tại phiên toà, bà Bé T3 vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất, yêu cầu anh Dương Tấn H, ông Dương Văn N và bà Nguyễn Thị Bé C liên đới trả cho bà B T3 phần đất lấn chiếm có diện tích đo đạc thực tế là 7,7m² (trong phạm vi từ mốc M1-L1-M2-M3-M5-M4 về mốc M1), thuộc một phần thửa 45, tờ bản đồ số 23, đất tọa lạc tại ấp M, xã P, huyện T, Đồng Tháp do bà Bé T3 đứng tên. Đối với lối đi, bà Bé T3 đồng ý cho anh H, ông N, bà Bé C1 lối đi ngang 2m, dài hết đất bà Bé T3.
* Theo đơn khởi phản tố, bị đơn anh Dương Tấn H đồng thời là đại diện theo uỷ quyền của ông Dương Văn N, bà Nguyễn Thị Bé C thống nhất trình bày:
Nguồn gốc phần đất lối đi là do ông nội anh H là cụ Dương Văn A1 (đã chết) và bà nội là cụ Bùi Thị T4 (đã chết) để lại. Phần đất lối đi thuộc thửa 1444 do bà B T3 đứng tên, lối đi này theo ông N kể lại là đã có từ năm 1980 đến nay, lối đi này do cụ Thể cho gia đình ông N sử dụng ngang 3,5m, dài từ mặt sông vào tới nhà ông N, việc cho lối đi không có làm giấy tờ gì. Từ khi được cho lối đi thì gia đình ông N, anh H sử dụng cho đến nay. Lý do cụ Thể cho lối đi là do đất của gia đình ông N nằm sau hậu đất của bà Bé T3 và không có lối đi nào khác. Phần đất lối đi hiện nay đã được san lắp cát, bao gồm mương nước cặp ranh giáp ông Lê Văn T6.
Cụ Bùi Thị T4 có 03 đời chồng và có 07 người con, gồm: Dương Văn N, Dương Thị H1, Dương Thị Kim E, Dương Thị H2, Dương Thị L, Dương Thị Bé T2, Dương Thị Bé T.
Đối với yêu cầu của bà B T yêu cầu hộ ông N, anh H trả lại phần đất lối đi ngang 3,5m, chiều dài 45,7m, diện tích 159,95m², thuộc một phần thửa 1444, tờ bản đồ số 2 (thửa 45, tờ bản đồ số 23, bản đồ chính quy), đất tọa lạc tại ấp M, xã P, huyện T thì anh H, ông N, bà Bé C1 không đồng ý.
Đối với ý kiến của bà B T đồng ý cho lối đi ngang 1,5m nhưng hộ ông N, anh H phải trả giá trị đất theo quy định thì anh H, ông N, bà Bé C1 không đồng ý.
Anh Dương Tấn H yêu cầu được công nhận quyền sử dụng đất lối đi có chiều ngang 4m, dài 33,35m, diện tích 133,4m², thuộc một phần thửa 1444, tờ bản đồ số 23 (thửa 45, tờ bản đồ số 23, bản đồ chính quy), đất tọa lạc tại ấp M, xã P, huyện T, Đồng Tháp do bà Dương Thị Bé T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đối với trụ đá ranh phía giáp ông Lê Văn T6 là do anh H và ông T6 cùng thống nhất trồng.
Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1445 hiện chưa được cấp đổi chính quy. Hiện nay, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên đã thất lạc không tìm được.
Tại phiên họp, anh H không thống nhất thoả thuận giá trị đất tranh chấp nhưng cũng không đồng ý định giá đất.
7
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Dương Thị Kim E trình bày:
Bà Kim E là con của cụ Dương Thành A2 và cụ Bùi Thị T4. Phần đất lối đi đang tranh chấp có nguồn gốc là một phần trong diện tích 50 công của bà T4 mua bà Mười C2, không nhớ thời gian, không biết có làm giấy tờ gì không. Sau khi mua đất thì bà T4 đã chia lại cho bà Bùi Thị Đ khoảng 25 công. Phần còn lại khoảng 25 công thì đã chia cho các anh em trong nhà. Phần đất bà Bé T3 đang đứng tên trước kia là cụ Thể cho bà Kim E, chỉ cho miệng, nhưng bà Kim E không nhận nên bà T4 cho lại bà B T3 để bà B T3 làm nuôi mẹ và bà B T3 được đứng tên đến nay.
Bà Kim E có ý kiến là bà Bé T3 phải cho hộ ông N có lối đi 1,5m để anh chị em hòa thuận với nhau. Ngoài ra, bà Kim E không có tranh chấp gì.
Đối với phần đất thửa 1445 là do mẹ là cụ Bùi Thị T4 cho ông N sử dụng, việc tranh chấp ranh giữa bà Bé T3 với hộ ông N, anh H thì các bên tự thỏa thuận, bà Kim E không có ý kiến hay tranh chấp gì đối với phần đất này.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Dương Thị H2 trình bày:
Bà H2 thống nhất với toàn bộ ý kiến và lời trình bày của bà Dương Thị Kim E. Ngoài ra, bà không có yêu cầu hay tranh chấp gì trong vụ án này.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Dương Thị Bé T2 trình bày:
Bà Bé T2 thống nhất với toàn bộ ý kiến và lời trình bày của bà Dương Thị Kim E. Ngoài ra, bà không có yêu cầu hay tranh chấp gì trong vụ án này.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Dương Thị H1 trình bày:
Bà H1 không có yêu cầu hay tranh chấp gì trong vụ án này và đề nghị Toà án giải quyết theo quy định.
* Từ khi thụ lý vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Dương Thị L đã được triệu tập hợp lệ đến các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như các phiên tòa xét xử vụ án, nhưng đến nay vẫn vắng mặt không có lý do cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 26, Điều 68, Điều 93 đến 97, Điều 195, Điều 196 và Điều 203 BLTTDS và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc thụ lý vụ án; xác minh thu thập tài liệu, chứng cứ; việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Riêng về thời hạn chuẩn bị xét xử: chưa đúng quy định Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.
8
Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử vụ án.
Các đương sự đã chấp hành đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Riêng đối với bị đơn là anh Dương Tấn H, Người đại diện theo ủy quyền của ông N, bà C1 là anh Dương Tấn H và bà Dương Thị L chấp hành chưa đúng quyền và nghĩa vụ khi tham gia tố tụng khi vắng mặt tại các phiên hòa giải, công khai chứng cứ và xét xử không lý do.
- Về nội dung vụ án:
Căn cứ Điều 175, Điều 176, Điều 254 Bộ luật Dân sự; Căn cứ Điều 166 Luật Đất đai; Căn cứ Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên, đình chỉ yêu cầu khởi kiện của anh Dương Tấn H về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất lối đi.
Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bà Dương Thị Bé T: hàng thừa kế thứ nhất của cụ Thể gồm ông Dương Văn N, bà Dương Thị Kim E, bà Dương Thị H1, bà Dương Thị H2, bà Dương Thị L, bà Dương Thị Bé T2 được công nhận quyền sử dụng đất lối đi có diện tích 67,9m² (trong phạm vi các mốc L1-L2-L3-M8-M9-M1 về mốc L1) thuộc một phần thửa 45, tờ bản đồ số 23, địa chỉ thửa đất tại ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp do bà Dương Thị Bé T đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Thể gồm ông Dương Văn N, bà Dương Thị Kim E, bà Dương Thị H1, bà Dương Thị H2, bà Dương Thị L, bà Dương Thị Bé T2 có trách nhiệm trả giá trị quyền sử dụng đất lối đi cho bà Dương Thị Bé T số tiền 40.740.000 đồng (Bốn mươi triệu bảy trăm bốn mươi nghìn đồng).
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Bé T : Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa 45, tờ bản đồ số 23 do bà Dương Thị Bé T đứng tên với thửa 1445, tờ bản đồ số 02 (bản đồ 299) do hộ cụ Bùi Thị T4 (đã chết) đứng tên là đoạn thẳng từ mốc L1-L2 đến mốc M5. Tài sản của hai bên lấn chiếm ranh đất phải di dời theo quy định của pháp luật. Các đương sự được quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh, kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
9
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bà Bé T3 khởi kiện yêu cầu anh H, ông N trả một phần đất lối đi và phần đất lấn chiếm; Anh H, ông N có địa chỉ cư trú tại ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp dân sự về ranh giới quyền sử dụng đất; Lối đi qua bất động sản liền kề” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.
[1.2] Về chấp hành pháp luật:
Anh Dương Tấn H, bà Dương Thị L đã được triệu tập hợp lệ tham dự các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và các phiên tòa xét xử, nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Đối với bà L không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đối với bà Dương Thị Kim E, bà Dương Thị H1, bà Dương Thị H2, bà Dương Thị Bé T2 có văn bản xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh H, bà Kim E, bà H1, bà H2, bà Bé T2 và bà L.
[2] Về nội dung vụ án: Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Bé T là có một phần căn cứ chấp nhận vì:
[2.1] Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất tranh chấp:
Xét thấy, các đương sự đều thừa nhận nguồn gốc phần đất tranh chấp trước đây là của cụ Bùi Thị T4 (đã chết).
Phần đất thửa 1444, tờ bản đồ số 02 (hiện nay là thửa 45, tờ bản đồ số 23, bản đồ chính quy) được hộ cụ Thể tặng cho bà B T vào năm 2010, bà Bé T3 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sử dụng từ khi được tặng cho đến nay.
Phần đất thửa 1445, tờ bản đồ số 02 (chưa được cấp đổi chính quy) là hồ sơ tách thửa, do hộ cụ Thể đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phần đất này hiện do hộ ông N, anh H, bà C1 sử dụng.
Theo Công văn số 1389/UBND-NC, ngày 06/3/2024 của Ủy ban nhân dân huyện T thì việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 1444 và thửa 1445 đảm bảo đúng trình tự, thủ tục và đối tượng theo quy định tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi cấp giấy không đo đạc thực tế.
[2.2] Đối với tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất:
Phần đất thửa 45, tờ bản đồ 23 cấp cho bà B T3 có diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 806,4m². Diện tích theo đo đạc thực tế do bà Bé T3 xác định từ mốc M1-M2-M3-M5-M6-M7-M8-M9 trở về mốc M1 là 772,6m².
10
Đối với phần đất thửa 1445 mà hộ ông N, anh H đang sử dụng được cấp cho hộ cụ Thể chưa được cấp đổi theo bản đồ địa chính chính quy, hiện vẫn do hộ cụ Thể đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cụ Thể đã chết và theo lời khai của các đương sự thì hàng thừa kế thứ nhất của cụ T4 hiện nay gồm ông Dương Văn N, bà Dương Thị Kim E, bà Dương Thị H1, bà Dương Thị H2, bà Dương Thị L, bà Dương Thị Bé T2 và bà Dương Thị Bé T, ngoài ra không còn ai khác.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Bé T3 xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa 45, tờ bản đồ số 23 với thửa 1445, tờ bản đồ số 02 là đoạn thẳng nối từ mốc M2-M3-M5. Bị đơn anh H xác định ranh giới giữa hai thửa đất là đoạn thẳng nối từ mốc M1-M4-M5.
Xét thấy, phần đất của bà Bé T3 đã được cấp đổi chính quy và hiện nay diện tích thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Mặt khác, đối với trụ đá tại mốc M1, các bên xác định chỉ do anh H và ông Trọng t, khi trồng không có mặt của bà Bé T3 và Bé T3 không thống nhất với trụ đá tại mốc M1 nên không có cơ sở xác định trụ đá tại mốc M1 là điểm xác định ranh giới giữa hai thửa đất. Anh H cho rằng ranh giới giữa hai thửa đất từ mốc M1-M4-M5, tuy nhiên hiện trạng sử dụng đất thì bà B T3 sử dụng đến hàng rào trụ đá do bà Bé T3 xây dựng, thời điểm xây dựng thì anh H, ông N không tranh chấp. Đối với anh H đã được triệu tập hợp lệ đến các phiên toà xét xử của Toà án nhưng vẫn vắng mặt không lý do.
Đối với mốc M5 là trụ đá rào đã được các bên thống nhất là mốc ranh chung nên chấp nhận. Đối với lời trình bày của anh H xác định ranh giới giữa hai thửa đất là đoạn thẳng nối từ mốc M1-M4-M5 là không có cơ sở chấp nhận. Đối với xác định của bà Bé T3 là có một phần cơ sở chấp nhận nhưng cần xác định tại mốc L1 làm mốc ranh chung theo ranh chính quy là phù hợp.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa 45, tờ bản đồ số 23 do bà Bé T3 đứng tên với thửa 1445, tờ bản đồ số 02 do hộ cụ Thể đứng tên là đoạn thẳng nối từ mốc L1-L2-M5.
[2.3] Đối với tranh chấp lối đi qua bất động sản liền kề:
Theo lời trình bày của các đương sự thì trước đây khi cụ Thể còn sống có cho gia đình ông N, anh H một lối đi ra trên đất của bà Bé T3. Vị trí lối đi tiếp giáp phía nhà bà Bé T3, cách ranh đất ông T6 một mương nước.
Trong quá trình sử dụng đất thì anh H đã san lấp mương nước để có lối đi như hiện nay. Trên lối đi này, anh H và ông N có trồng 03 cây mít phía giáp với đất ông T6, bà Bé T3 có trồng 03 cây mít phía giáp nhà bà Bé T3.
Theo yêu cầu khởi kiện, bà Bé T3 yêu cầu ông N, anh H, bà Bé C1 trả lại một phần đất lối đi, chỉ đồng ý cho gia đình ông N sử dụng lối đi ngang 1,5m, dài hết đất của bà T3 (diện tích theo đo đạc thực tế là 53,5m² từ mốc M1-M2-M3-M8-M9 về mốc M1). Tại phiên toà, bà B T3 đồng ý cho sử dụng lối đi
11
ngangg 2m, dài hết đất bà Bé T3 (diện tích theo đo đạc thực tế là 67,9m² từ mốc L1-L2-L3-M8-M9-M1 về mốc L1).
Đối với anh H có yêu cầu phản tố yêu cầu được công nhận quyền sử dụng lối đi ngang 4m, dài hết đất bà T3 (diện tích theo đo đạc thực tế là 133,4m² từ mốc M1-M4-M7-M8-M9 về mốc M1). Tuy nhiên, anh H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xem như anh H từ bỏ việc khởi kiện. Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của anh H.
Theo kết quả định giá của Hội đồng định giá thì phần đất tranh chấp có giá là 600.000 đồng/m².
Tại phiên toà, bà Bé T3 trình bày đồng ý cho hộ anh H, ông N được sử dụng lối đi ngang 2m dài hết đất bà Bé T3. Xét đây là sự tự nguyện của bà Bé T3 nên chấp nhận, tuy nhiên hiện phần đất thửa 1445 vẫn do hộ cụ Thể đứng tên nên cần xác định những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Thể được công nhận quyền sử dụng lối đi này và trả giá trị quyền sử dụng đất theo kết quả định giá cho bà B T3 là phù hợp, cụ thể:
Giá trị quyền sử dụng đất lối đi = 67,9m² x 600.000 đồng/m² = 40.740.000 đồng (Bốn mươi triệu bảy trăm bốn mươi nghìn đồng).
[2.4] Đối với thửa 1445, tờ bản đồ số 02 hiện còn đứng tên hộ cụ Thể. Hiện nay, cụ Thể đã chết, hàng thừa kế thứ nhất của cụ Thể gồm ông N, bà H1, bà Kim E, bà H2, bà L, bà Bé T2 và bà B T3 không có tranh chấp thừa kế đối với quyền sử dụng đất do hộ cụ Thể đứng tên, nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
[3] Về chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 157, Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 5.637.000 đồng và chi phí định giá tài sản là 600.000 đồng, tổng cộng là 6.237.000 đồng. Do chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà B T3 nên bà B T3 phải chịu 1.054.000 đồng (Một triệu không trăm năm mươi bốn nghìn đồng), bà Bé T3 đã chi xong; Hàng thừa kế thứ nhất của cụ Thể gồm ông N, bà H1, bà Kim E, bà H2, bà L, bà Bé T2 phải chịu 5.183.000 đồng (Năm triệu một trăm tám mươi ba nghìn đồng). Bà Bé T3 đã tạm ứng và chi xong chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản nên ông N, bà H1, bà Kim E, bà H2, bà L, bà Bé T2 có trách nhiệm trả lại cho bà Bé T3 số tiền này 5.183.000 đồng (Năm triệu một trăm tám mươi ba nghìn đồng).
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
12
Bà Bé T3 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001697 ngày 29/11/2021, số tiền 925.000 (Chín trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001896 ngày 27/12/2021 và số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0007930 ngày 06/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười. Bà Bé T3 được nhận lại số tiền chênh lệch là 1.225.000 đồng (Một triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Ông N, bà H1, bà Kim E, bà H2, bà L, bà Bé T2 phải chịu 2.037.000 đồng (Hai triệu không trăm ba mươi bảy nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả giá trị đất cho bà Bé T3.
Anh H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thuộc trường hợp cá nhân thuộc hộ nghèo.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 175, Điều 176, Điều 254 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 166 Luật Đất đai;
Căn cứ Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của anh Dương Tấn H về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất lối đi.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị Bé T.
- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Dương Thị Bé T.
- Về chi phí tố tụng:
- Về án phí:
- Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa 45, tờ bản đồ số 23 do bà Dương Thị Bé T đứng tên với thửa 1445, tờ bản đồ số 02 (bản đồ 299) do hộ cụ Bùi Thị T4 (đã chết) đứng tên là đoạn thẳng từ mốc L1-L2 đến mốc M5.
Ranh đất được sử dụng theo chiều thẳng đứng tính từ lòng đất đến không gian. Tài sản của hai bên lấn chiếm ranh đất phải di dời theo quy định của pháp luật. Các đương sự được quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều
13
chỉnh, kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và chịu chi phí (nếu có).
(Kèm theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 30/3/2022 và Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 28/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười; Sơ đồ đo đạc phụ lục sửa đổi, bổ sung ngày 27/6/2024 của Công ty TNHH D).
Hộ cụ Bùi Thị T4 (đã chết), hàng thừa kế thứ nhất của cụ Thể gồm ông Dương Văn N, bà Dương Thị Kim E, bà Dương Thị H1, bà Dương Thị H2, bà Dương Thị L, bà Dương Thị Bé T2 được công nhận quyền sử dụng đất lối đi có diện tích 67,9m² (trong phạm vi các mốc L1-L2-L3-M8-M9-M1 về mốc L1) thuộc một phần thửa 45, tờ bản đồ số 23, địa chỉ thửa đất tại ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp do bà Dương Thị Bé T đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
(Kèm theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 30/3/2022 bà Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 28/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười; Sơ đồ đo đạc phụ lục sửa đổi, bổ sung ngày 27/6/2024 của Công ty TNHH D).
Hộ cụ Bùi Thị T4 (đã chết), hàng thừa kế thứ nhất của cụ Thể gồm ông Dương Văn N, bà Dương Thị Kim E, bà Dương Thị H1, bà Dương Thị H2, bà Dương Thị L, bà Dương Thị Bé T2 có trách nhiệm trả giá trị quyền sử dụng đất lối đi cho bà Dương Thị Bé T số tiền 40.740.000 đồng (Bốn mươi triệu bảy trăm bốn mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền trên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi trên số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, tương ứng với thời gian chưa thi hành án đến khi thi hành xong.
Các đương sự được quyền đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh, kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và chịu chi phí (nếu có).
Bà Dương Thị Bé T phải chịu 1.054.000 đồng (Một triệu không trăm năm mươi bốn nghìn đồng) chi phí tố tụng, bà Bé T3 đã chi xong.
Hộ cụ Thể (Hàng thừa kế thứ nhất của cụ Thể gồm ông N, bà H1, bà Kim E, bà H2, bà L, bà Bé T2) phải chịu 5.183.000 đồng (Năm triệu một trăm tám mươi ba nghìn đồng) chi phí tố tụng. Bà Bé T3 đã tạm ứng và chi xong nên hộ cụ Thể (Hàng thừa kế thứ nhất của cụ Thể gồm ông N, bà H1, bà Kim E, bà H2, bà L, bà Bé T2) có trách nhiệm trả lại cho bà B T3 số tiền 5.183.000 đồng (Năm triệu một trăm tám mươi ba nghìn đồng).
13
Bà Dương Thị Bé T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001697 ngày 29/11/2021, số tiền 925.000 (Chín trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001896 ngày 27/12/2021 và số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0007930 ngày 06/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười. Bà Bé T3 được nhận lại số tiền chênh lệch là 1.225.000 đồng (Một triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Hộ cụ Thể (hàng thừa kế thứ nhất của cụ Thể gồm ông N, bà H1, bà Kim E, bà H2, bà L, bà Bé T2) phải chịu 2.037.000 đồng (Hai triệu không trăm ba mươi bảy nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Anh H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, trường hợp cá nhân thuộc hộ nghèo.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Quốc Thái |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
Bản án số 94/2024/DS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất, lối đi qua bất động sản liền kề
- Số bản án: 94/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất, lối đi qua bất động sản liền kề
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà T yêu cầu anh H trả lại đất lấn chiếm.
