Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:94/2024/HS-ST

Ngày: 26-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Văn Tuyến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lưu Xuân Mung

Ông Nguyễn Anh Thơ

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà:Bà Trần Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khaivụ án hình sự thụ lý số 93/2024/TLST- HS, ngày 28 tháng 06 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2024/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 07 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh ngày 06 tháng 01 năm 1986 tại Hải Phòng; ĐKHKTT: Thôn N, xã N, huyện V, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Khu đất 5,4 ha, Tổ G, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Phạm Thị V; có vợ là Nguyễn Thị T1 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2009; tiền án:bị cáo có 01 tiền án đã được xóa án tích (Bán án số 37/2019/HS-ST ngày 24 tháng 5 năm 2019 Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xử 30 tháng tù về tội về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy), tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 18 tháng 3 năm 2024 đến ngày 23 tháng 3 năm 2024 chuyển tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.

Người chứng kiến:

  1. Ông Mai Thiện M, vắng mặt tại phiên tòa.
  2. Ông Lê Xuân Đ, vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 15 tháng 3 năm 2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy “đá”, Nguyễn Văn T thuê xe “ôm” của một người đàn ông không quen biết từ đường B đến khu vực đường T, quận L, thành phố Hải Phòng với mục đích mua ma túy để sử dụng. Tại đây, T gặp một người đàn ông (Hiện không xác định được lai lịch, địa chỉ), hỏi mua 700.000 đồng ma túy “đá” được 01 túi nilon kích thước 03x05 cm bên trong chứa tinh thể màu trắng. T mang số ma túy trên về nhà mình (không có số nhà)ở khu đất 5,4 ha, tổ G, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng giấu trong lỗ của01 viên gạch chỉ tại tường cạnh cửa ngách. Ngày 16 tháng 3 năm 2024, T lấy một ít ma túy từ gói ma túy trên ra sử dụng một mình tại nhà. Số ma túy còn lại, T gói vào giấu tại vị trí cũ. Đến khoảng 23 giờ 05 phút ngày 17 tháng 3 năm 2024, tổ công tác Công an phường T tiến hành kiểm tra hành chính nhà của T. Quá trình kiểm tra, T tự nguyện lấy từ trong lỗ của 01 viên gạch chỉ tại tường cạnh cửa ngách nhà 01 túi nilon kích thước 03x05cm trong chứa tinh thể màu trắng giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng và lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Kết quả xét nghiệm nhanh nước tiểu của Nguyễn Văn T ngày 18 tháng 3 năm 2024:Nguyễn Văn T dương tính với chất ma túy Methamphetamine.

Tại bản Kết luận giám định số 324/KL-KTHS ngày 22 tháng 3 năm 2024 của Phòng K Công an T2 kết luận đối với tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon đã thu giữ của Nguyễn Văn T: “là ma túy, có khối lượng 1,02 gam, loại Methamphetamine”.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T khai nhận như nội dung trên.

Tại Cáo trạng số 95/CT-VKS ngày 26 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Văn T từ27 thángtù đến30 tháng tù, về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18 tháng 3 năm 2024.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy01 bì thư có dấu niêm phong số 324/MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố T2 bên trong có 0,76 gam tinh thể cùng vỏ bao gói của mẫu vật hoàn trả sau giám định.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, nội dung bản cáo trạng, tang vật thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Khoảng 23 giờ 05 phút, ngày 17 tháng 3 năm 2024 tại nhà của Nguyễn Văn T ở khu đất 5,4 ha, tổ G, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng, tổ công tác Công an phường T hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn T có hành vi cất giấu trái phép 1,02gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân.

Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây ra nhiều hệ lụy cho xã hội, làm suy thoái đạo đức lối sống và là nguyên nhân làm phát sinh những tội phạm khác gây mất trật tự xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Qua đó đã thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm tương xứng đối với hành vi phạm tội của mình.

[4] Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có 01 tiền án đã được xóa án tích (Bản án số 37/2019/HS-ST ngày 24 tháng 5 năm 2019 Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xử 30 tháng tù về tội về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong án phạt tù ngày 03 tháng 02 năm 2021, thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 10 tháng 9 năm 2019).

[5] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặngtrách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹtrách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra bị cáo có ông nội là liệt sĩ thời kỳ chống Mỹ nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tránh nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt: Sau khi xem xét, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy, làm suy thoái đạo đức lối sống và là nguyên nhân làm phát sinh những tội phạm khác gây mất trật tự xã hội.

Do vậy cần phải xử lý nghiêm, bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian, đủ để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Methamphetamine của Nguyễn Văn T vào ngày 16 tháng 3 năm 2024, ngày 14 tháng 6 năm 2024 Công an quận H đã ra Quyết định xử lý vi phạm hành chínhtheo quy định tạikhoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho T tại khu vực đường T, quận L, thành phố Hải Phòng, người đàn ông làm nghề xe “ôm” chở T đi mua ma túy hiện chưa xác định được lai lịch, địa chỉ, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi có đủ căn cứ xử lý sau.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, chưa xác minh được bị cáo có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng:Số ma tuý Công an thu giữ của bị cáo sau khi lấy một phầngửi giám định, lượng còn lại xét là vật cấm lưu hành, vỏ bao gói của mẫu vật không có giá trị sử dụng cần tịchthu tiêu huỷ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án, bị cáo trình bày nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm và rất ăn năn hối cải nên mong muốn được sự khoan hồng của pháp luật, được giảm nhẹ hình phạt.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 27 (hai mươi bẩy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 18 tháng 3 năm 2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư niêm phong lại số 324/MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố T2 bên trong có 0,76 gam tinh thể cùng vỏ bao gói của mẫu vật hoàn trả sau giám định (theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28 tháng 06 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND quận Hải An;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - CQCSĐT – Công an quận Hải An;
  • - CQTHAHS - Công an quận Hải An;
  • - PV06 - Công an TP Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS quận Hải An;
  • - Trại tạm giam - Công an Hải Phòng;
  • - TAND thành phố Hải Phòng
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Tuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 94/2024/HS-ST ngày 26/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 94/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TTMT Nguyễn Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger