Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2024/HS-ST

Ngày: 25-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên tòa: ông Nguyễn Chí Mạnh

Các Hội thẩm nhân dân: bà Đinh Thanh Hoàn và ông Nguyễn Văn Quýnh.

- Thư ký phiên tòa: bà Đặng Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu H - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 85/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 09 năm 2024. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Văn M (tên gọi khác: không), giới tính: nam, sinh ngày 03/9/1990, tại L, Hòa Bình. Nơi thường trú: xóm R, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Chỗ ở: khu E, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Mường, tôn giáo: không, trình độ học vấn: lớp 12/12, nghề nghiệp: lao động tự do. Con ông Bùi Văn D và bà Bùi Thị P. Vợ: Nguyễn Thị L. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 18/6/2024, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: ông Lê Sỹ D1 - Luật sư văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư Q. Có mặt.

- Người chứng kiến: Ngô Hoàng T. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 18/6/2024, Bùi Văn M nhận được cuộc gọi từ số điện thoại 0977.242.xxx của P1 (không rõ lai lịch, địa chỉ) nhờ M mua 04 gói ma túy, loại H1, M đồng ý và gặp H2 (không rõ lai lịch, địa chỉ) là công nhân bốc vác cùng M tại cảng T xin số của người đàn ông bán ma túy và gọi cho người này hỏi mua 07 gói ma túy thì được người này hẹn đến khu công nghiệp H, thành phố M để giao dịch mua bán ma túy. Khoảng 16 giờ cùng ngày, M đến điểm hẹn và mua của người đàn ông 07 gói ma túy loại Heroine với giá 1.400.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, M cấu giấu số ma túy trên vào trong ví da rồi để trong túi quần đi về phòng trọ tại khu E, phường H, thành phố M. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, P1 gọi điện hẹn gặp M để mua ma túy thì M hẹn đến khu vực cầu T thuộc khu G, phường H, thành phố M. Khoảng 21 giờ 40 phút cùng ngày, M đến điểm hẹn gặp và đưa 04 gói ma túy cho P1 thì bị tổ công tác Công an thành phố M kiểm tra, lúc này P1 bỏ chạy còn M bị bắt. Thu giữ trên tay trái của M 04 gói giấy màu trắng (kí hiệu M1 đến M4) và trong túi quần bên phải 03 gói giấy màu trắng (kí hiệu M5 đến M7), bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng. Ngoài ra thu giữ của M 01 điện thoại di động nhãn hiệu REALME, màu xanh dương, bên trong gắn sim số 0355873185.

Tại Bản kết luận giám định số 964/KL-KTHS ngày 25/6/2024, của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: chất bột màu trắng (kí hiệu từ M1 đến M7), thu của Bùi Văn M gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có tên khoa học là D2, khối lượng: 0,237 gam (không phẩy hai ba bẩy gam).

Quá trình điều tra, Bùi văn M1 khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Người chứng kiến anh Ngô Hoàng T có lời khai: Khoảng 21 giờ 40 phút ngày 18/6/2024, anh được chứng kiến tại khu G, phường H, thành phố M. Tổ công tác Công an thành phố M, tiến hành kiểm tra hành chính một nam thanh niên khai tên là Bùi Văn M, sinh năm 1990, nơi thường trú: xóm R, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Chỗ ở: khu E, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Qua kiểm tra phát hiện thu giữ trên tay trái của M 04 gói giấy màu trắng và trong túi quần bên phải 03 gói giấy màu trắng, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng. Ngoài ra thu giữ của M 01 điện thoại di động nhãn hiệu REALME, màu xanh dương. M khai nhận tổng số 07 gói giấy là ma túy, loại Heroine, M mang đi bán cho người đàn ông không quen biết tên P1 04 gói, với giá 400.000 đồng/01 gói, nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện bắt giữ.

Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an thành phố M lập hồi 22 giờ 20 phút, ngày 18/6/2024 thể hiện: hồi 21 giờ 40 phút ngày 18/6/2024, tổ công tác Công an thành phố M làm nhiệm vụ tại khu G, phường H, thành phố M, trong quá trình tuần tra phát hiện 01 đối tượng nghi vấn phạm pháp hình sự nên kiểm tra hành chính. Đối tượng khai tên Bùi Văn M, sinh năm 1990, nơi thường trú: xóm R, xã V, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Chỗ ở: khu E, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Qua kiểm tra phát hiện thu giữ trên tay trái của M 04 gói giấy màu trắng và trong túi quần bên phải 03 gói giấy màu trắng, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng. Ngoài ra thu giữ của M 01 điện thoại di động nhãn hiệu REALME, màu xanh dương. M khai nhận tổng số 07 gói giấy là ma túy, loại Heroine, M mang đi bán cho người đàn ông không quen biết tên P1 04 gói, với giá 400.000 đồng/01 gói, nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện bắt giữ.

Bản cáo trạng số 1674/CT-VKSMC ngày 05/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố bị cáo Bùi Văn M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái giữ quyền công tố Nhà nước vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Bùi Văn M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Văn M từ 27 tháng đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2024.

Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:

  • +) Tịch thu sung ngân sách Nhà nước của bị cáo 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REALME, màu xanh dương, số Imel 1: 861866066514979, số Imel 2: 861866066514961, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
  • +) Tịch thu cho tiêu hủy 01 (một) sim điện thoại số 0355.873.xxx.

Phần tranh luận: bị cáo không tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa: hoàn toàn nhất trí với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt thấp nhất cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo ăn năn hối cải đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Bùi Văn M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Về chứng cứ: tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn M hoàn toàn nhận tội và khai nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

[3] Như vậy căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo trước Tòa, lời khai của người chứng kiến, vật chứng vụ án, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: khoảng 21 giờ 40 phút ngày 18/6/2024, tại khu G, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh Bùi Văn M có hành vi cất giấu trái phép 0,237gam (không phẩy hai ba bẩy gam) Heroine nhằm mục đích bán trái phép cho người khác thì bị phát hiện bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Văn M phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là hoàn toàn khách quan, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy.

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”

Ma túy là một loại độc dược rất nguy hiểm, nó tàn phá, hủy hoại sức khỏe, nhân cách và tính mạng con người, làm lây truyền các căn bệnh hiểm nghèo và là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an xã hội. Vì vậy, Nhà nước quy định độc quyền quản lý chất ma túy, bất cứ ai vi phạm sẽ bị pháp luật nghiêm trị.

Bị cáo Bùi Văn M là người đã trưởng thành, nhận thức được tác hại của ma túy và điều cấm của pháp luật. Nhưng do tu dưỡng, rèn luyện bản thân kém, bất chấp điều cấm của pháp luật nên đã tìm mua ma túy vừa để sử dụng cho bản thân vừa để bán kiếm lời lấy tiền tiêu sài cá nhân. Hành vi của bị cáo không những vi phạm quy định của Nhà nước về độc quyền quản lý chất ma túy mà còn làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo bị cáo trở thành người tốt.

[4] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

  • - Tình tiết tăng nặng: không có.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, bị cáo có nhân thân tốt, tiền án tiền sự chưa có. Do đó, được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự có thể phạt bị cáo một khoản tiền sung ngân sách Nhà nước. Nhưng xét bị cáo không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6] Về xử lý vật chứng: đối với số ma túy thu của bị cáo M trong quá trình giám định, cơ quan giám định đã không hoàn lại đối tượng giám định nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REALME, màu xanh dương, số Imel 1: 861866066514979, số Imel 2: 861866066514961, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, bên trong lắp sim số 0355.873.185. Xét thấy, đối với chiếc điện thoại bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Đối với chiếc sim điện thoại bị cáo dùng vào việc phạm tội xét không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

[7] Các tình tiết khác của vụ án: liên quan trong vụ án có người đàn ông đã bán ma túy cho M, đối tượng H2 đã cho M số điện thoại của người đàn ông bán ma túy và đối tượng tên P1 mua ma túy của M, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu theo quy định.

[9] Về quyền kháng cáo: bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: bị cáo Bùi Văn M 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2024.

- Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

  • +) Tịch thu sung ngân sách Nhà nước của bị cáo 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu REALME, màu xanh dương, số Imel 1: 861866066514979, số Imel 2: 861866066514961, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
  • +) Tịch thu cho tiêu hủy 01 (một) sim điện thoại số 0355.873.xxx.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/9/2024 giữa Công an thành phố M và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái).

- Về án phí và quyền kháng cáo: căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Bùi Văn M phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND thành phố Móng Cái;
  • - Cơ quan điều tra cùng cấp;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an thành phố Móng Cái;
  • - Nhà tạm giữ Công an thành phố Móng Cái;
  • - Bị cáo;
  • - Chi cục THADS thành phố Móng Cái;
  • - Lưu án văn + Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Chí Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 94/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 94/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI - TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt Bùi Văn Minh 30 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger