|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 94/2024/HS-ST
Ngày 25/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm và những người tiến hành tố tụng tại điểm cầu Trung tâm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: ông Lê Lương Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- ông Hà Văn Tiêm.
- bà Nguyễn Thị Ngọc Lan.
Thư ký phiên toà: ông Cầm Việt Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: ông Nguyễn Long Thành - Kiểm sát viên.
Những người tiến hành tố tụng Tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố Sơn La gồm có:
- Ông Đỗ Anh T – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Ông Tòng Thanh Q – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Người tham gia tố tụng khác: Cán bộ Công an dẫn giải gồm có Thiếu tá Trần Hùng V và Đại úy Lò Văn M – Cán bộ Đội hô trợ tư pháp và thi hành án hình sự Công an thành phố S.
Ngày 25 tháng 8 năm 2024 tại điểm cầu Trung tâm trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố S xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 103/2024/TLST-HS, ngày 12/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 100/2024/QĐXXST-HS, ngày 14/8/2024 đối với các bị cáo:
- Cà Văn T1, sinh ngày 06 tháng 01 năm 2003; Trú tại bản N, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Dân tộc: Thái. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo, đảng phái, đoàn thể: Không. Con ông Cà Văn Y, sinh năm 1982 và bà Cà Thị H, sinh năm 1982, bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/3/2024 đến nay, bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố S.
- Cà Văn V1, sinh ngày 28 tháng 3 năm 2003; Trú tại bản N, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Dân tộc: Thái. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo, đảng phái, đoàn thể: Không. Con ông Cà Văn T2, sinh năm 1972 và bà Cà Thị N, sinh năm 1979, bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/3/2024 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố S.
- Tòng Văn A, sinh ngày 08/02/1999; Đăng ký thường trú tại bản Mển, xã H, huyện M, tỉnh Sơn La; Tạm trú tại bản Muông, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Dân tộc: Thái. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo, đảng phái, đoàn thể: Không. Con ông Tòng Văn Â, sinh năm 1973 và bà Quàng Thị K, sinh năm 1973, bị cáo có vợ là Cà Thị T3, sinh năm 1999 và có 01 con sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/3/2024 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố S.
Người bào chữa cho bị cáo Tòng Văn A: Luật sư Đèo Văn H1, sinh năm 1968, số thẻ Luật sư: 8788/LS, do L1 cấp ngày 27/3/2014 – thuộc Đoàn luật sư tỉnh S. Có mặt tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố S.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Cà Văn Y, sinh năm 1982; Trú tại bản N, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa tại điểm cầu Trung tâm.
- Chị Cà Thị T3, sinh năm 1999; Trú tại bản M, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa tại điểm cầu Trung tâm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 22 giờ 45 phút, ngày 09/3/2024, tổ công tác C anphường C, thành phố S làm nhiệm vụ tại khu vực tổ B, phường C phát hiện T1 đang đi bộ, nghi ngờ T1 có liên quan đến tội phạm về ma túy, tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra hành chính đối với T1, quá trình kiểm tra T1 giao nộp từ trong túi áo khoác bên phải phía trước đang mặc 01 gói giấy bạc bên trong có chứa 04 viên nén màu hồng (T1 khai nhận là ma túy hồng phiến cất giữ để sử dụng cùng Cà Văn V1 và Tòng Văn A), tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng:
Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang gồm:01 gói giấy bạc, bên trong có 04 viên nén màu hồng, nghi là ma túy hồng phiến.
Căn cứ vào lời khai của Cà Văn T1, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã triệu tập Cà Văn V1 và Tòng Văn A đến làm việc, tại Cơ quan điều tra, Cà Văn V1 và Tòng Văn A đã thừa nhận ngày 09/3/2024 đã cùng với T1 cùng góp tiền để đi mua ma túy hồng phiến về cùng sử dụng, cơ quan điều tra đã tiến hành bắt giữ khẩn cấp đối với V1 và A và đã thu giữ của V1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, BKS 26B2 718.24 (xe của Cà Văn T1, do V1 giữ) và thu giữ của A 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS 26L1 178.38, các xe đều đã cũ qua sử dụng.
Ngày 10/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố S đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng, kết quả cân tịnh: 04 viên nén đồng dạng màu hồng thu giữ khi bắt quả tang có khối lượng 0,42 gam; lấy 02 viên nén đồng dạng màu hồng có khối lượng 0,21 gam cho vào túi ni lon màu trắng hàn kín lại làm mẫu gửi giám định, ký hiệu C, còn lại 02 viên nén đồng dạng màu hồng có khối lượng 0,21 gam cho vào túi ni lon màu trắng làm mẫu lưu kho ký hiệu T.
Cùng ngày, cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố S ra quyết định trưng cầu giám định số 304/QĐ – ĐCSKT – MT, trưng cầu Phòng PC 09 – Công an tỉnh S để giám định chất ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 665/KL-KTHS, ngày 12/3/2024 của phòng K1 Công an tỉnh S kết luận: "Mẫuký hiệu C gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,21 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,42 gam loại Methamphetammin".
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Cà Văn T1, Cà Văn V1 và Tòng Văn A khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 09/3/2024, T1 rủ V1 đi uống bia ở quán thuộc xã C, đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày khi đang uống bia thì T1 gọi điện thoại cho A rủ A tới uống bia cùng, một lúc sau A tới và cả 03 bị cáo cùng uống bia đến 22 giờ 30 cùng ngày thì T1 rủ V1 và A góp tiền mua ma túy để cùng nhau sử dụng, cả V1 và A đều đồng ý, sau khi thống nhất được việc góp tiền đi mua ma túy, T1 bảo V1 và A đi đến khu vực Phòng giao dịch của Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh phòng G, thành phố S để tìm mua ma túy sử dụng, T1 điều khiển xe mô tô đi một mình, còn A điều khiển xe mô tô trở theo Việt, khi tới nơi do không tìm được người bán ma túy nên cả ba bị cáo dừng lại, tại đây T1 bảo với V1 và A góp tiền để mua ma túy cùng sử dụng, V1 góp 100.000,đ, T1 góp 300.000,₫ (đây là tiền T1 bỏ ra trước bao gồm cả phần của T1 và của A, A đồng ý với hình thức góp tiền này), tổng số tiền là 400.000,đ. Sau đó T1 bảo với V1 và A tiếp tục đi lên khu vực tổ B, phường C để tìm mua ma túy thì V1 bảo với T1 và A sẽ ở lại đợi, thấy vậy T1 đã giao xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, BKS 26B2 718.24 cho V1 giữ và cùng A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS 26L1 178.38 tới khu vực tổ B, phường C, thành phố S, khi đi đến ngõ C thuộc tổ B, phường C thì T1 xuống xe đi bộ vào trong ngõ còn A điều khiển xe mô tô ra đứng ở đường Q để chờ T1. T1 vào trong ngõ C đã gặp một người nam giới không quen biết và qua trao đổi T1 đã mua được của người đàn ông này 01 gói giấy bạc bên trong có 04 viên ma túy tổng hợp với giá 400.000,đ, sau khi mua được ma túy, T1 cất gói ma túy vào trong túi áo khoác bên phải phía trước đang mặc rồi đi bộ ra đường Q để tìm A thì gặp tổ công tác công an phường C, kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Đối với A và V1 do chờ T1 lâu không thấy quay lại nên cả hai đều đã điều khiển xe mô tô đi về nhà.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Cà Văn Y trình bày: Ông là bố đẻ của bị cáo Cà Văn T1, vợ chồng ông có mua một chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, BKS 26B2 718.24 để cho vợ đi lại, tuy nhiên do vợ ông chưa có giấy phép lái xe nên ông đã để cho con trai là Cà Văn T1 đứng tên đăng ký xe, đợi thời gian tới vợ ông học và thi lấy giấy phép lái xe thì sẽ chuyển lại đăng ký xe cho vợ ông để vợ ông đi lại, hiện nay vợ ông đang theo học lớp lái xe mô tô hạng A1, chuẩn bị thi lấy giấy phép lái xe. Ngày 09/3/2024 con trai ông là Cà Văn T1 đã tự ý lấy chiếc xe máy trên đi chơi với bạn, ông đã gọi điện nhiều lần để cháu mang xe về nhà nhưng cháu xin phép đến 22 giờ sẽ mang xe về, đến khoảng 22 giờ ông gọi điện cho cháu về nhưng không liên lạc được nữa, ngày hôm sau ông mới biết cháu vi phạm pháp luật và bị công an bắt giữ, chiếc xe trên con ông là bị cáo T1 cũng không sử dụng vào việc đi mua ma túy. Ông Y đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe trên cho gia đình để ông chuyển giao cho vợ ông quản lý, sở hữu, sử dụng.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Cà Thị T3 trình bày: Chị là vợ của bị cáo Tòng Văn A, sau khi kết hôn thì chị tiết kiệm tiền để mua chiếc xe máy trên để làm phương tiện đi lại, chiếc xe máy này chị để cho chồng là Tòng Văn A đứng tên đăng ký, đây là phương tiện đi lại duy nhất của gia đình, hiện nay hàng ngày chị phải đi làm cách nhà hơn 10km và hàng ngày đi đưa đón con đi học cách nhà 14 km, sau khi chồng chị phạm tội và bị cơ quan công an tạm giữ xe thì chị không có phương tiện để đi làm và đưa đón con đi học, chị đề nghị xin Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe trên cho gia đình để chị có phương tiện đi lại làm việc, chăm lo cho gia đình và đưa đón con đi học.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 227/CT-VKS, ngày 11/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La truy tố các bị cáo Cà Văn T1, Cà Văn V1 và Tòng Văn A về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố các bị cáo Cà Văn T1, Cà Văn V1 và Tòng Văn A1 tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 17, điều 38, điều 58 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Cà Văn T1 từ 21 đến 24 tháng tù.
Áp dụng điểm c khoản 1điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 17; điều 38; điều 58 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Cà Văn V1 từ 17 đến 20 tháng tù.
Áp dụng điểm c khoản 1điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 17; điều 38; điều 58 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Tòng Văn A từ 17 đến 20 tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2; điểm b khoản 3điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn do công an thành phố S phát hành bên trong có 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01mảnhgiấy bạc; Mẫu lưu ký hiệu T = 0,21 gam.
- Trả lại cho bị cáo Cà Văn T1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, BKS 26B2 718.24 và trả lại cho vợ chồng chị Thảo01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS 26L1 178.38.
Buộc các bị cáo Tòng Văn T4 và Cà Văn V1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Tòng Văn A.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Tòng Văn A phát biểu quan điểm bào chữa: Bị cáo Tòng Văn A2 trú tại vùng đặc biệt khó khăn theo QĐ 90/QĐ – TTg, ngày 20/6/2017 của Thủ tướng Chính phủ, quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội. Đề nghị miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo A do bị cáo cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn.
Tại phiên tòa, các bị cáo Cà Văn T1, Cà Văn V1, Tòng Văn A nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo A và người bào chữa cho bị cáo đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về tố tụng: Trong vụ án, bị cáo Tòng Văn A là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội miền núi đặc biệt khó khăn của tỉnh Sơn La, bị cáo thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý theo Luật trợ giúp pháp lý và có đề nghị người bào chữa để bảo vệ quyền và lợi ích của mình, do đó Trung tâm trợ giúp pháp luật tỉnh S đã cử Luật sư bào chữa cho bị cáo Tòng Văn A tại phiên tòa sơ thẩm.
[3] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, qua xét hỏi các bị cáo Cà Văn T1, Cà Văn V1, Tòng Văn A khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát thành phố S đã truy tố đối với các bị cáo. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Ngày 10/3/2024, Cà Văn T1 có hành vi khởi xướng, rủ rê Cà Văn V1, Tòng Văn A góp tiền đi mua ma túy về sử dụng, được sự đồng ý, nhất trí và đã góp được 400.000,đ để bị cáo T1 đi mua ma túy, sau khi T1 mua được ma túy và đang tàng trữ 0,42 gam Methamphetamine với mục đích để cả ba bị cáo cùng nhau sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi phạm tội của các bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ: Lời khai nhận tội của các bị cáo; Biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng thu giữ là 0,42 gam Methamphetamine; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Kết luận giám địnhsố 665/KL-KTHS, ngày 12/3/2024 của phòng K1 Công an tỉnh S; L khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận điều tra.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Cà Văn T1, Cà Văn V1, Tòng Văn A đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố và Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xét xử các bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, khung hình phạt có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm và thuộc trường hợp nghiêm trọng là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
[4] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ chính sách quản lý chất ma túy của Nhà nước. Các bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy và hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Xét cần xử phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm trừng trị, giáo dục các bị cáo và nhằm răn đe phòng ngừa chung.
Trong vụ án các bị cáo đều là đồng phạm giản đơn, bị cáo T1 là người chủ mưu, rủ rê, khởi xướng và các bị cáo đều tích cực thực hiện hành vi phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần cân nhắc về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của từng bị cáo.
Về nhân thân: Các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo T1 đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm, khi bị cơ quan công an phát hiện bắt giữ đã khai ra các đồng phạm khác, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo T1 theo quy định tại điểm t khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự, ngoài ra bị cáo Cà Văn T1 có ông ngoại là Cà Văn M1 đã có công lao trong cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất và bị cáo Cà Văn V1 có ông nội là Cà Văn M1 đã có công lao trong cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất và có ông ngoại là Tòng Văn S, được cấp có thẩm quyền tặng Bằng khen đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo T1 và V1 theo quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự. Qua xem xét các tình tình tiết giảm nhẹ của từng bị cáo, do đó cần xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt để thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.
[5] Về hình phạt bổi sung: Các bị cáo đều không có việc làm, tài sản có giá trị, thu nhập không ổn định, việc áp dụng hình phạt bổ sung khó có khả năng thi hành, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Về vật chứng vụ án: Đối với 0,21 gam Methamphetamine còn lại sau khi trừ giám định, ký hiệu T; 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01mảnhgiấy bạc, xét là vật Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, do đó cần tịch thu, tiêu hủy là phù hợp với quy định tại điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, BKS 26B2 718.24 đã qua sử dụng. Xác định đây là tài sản của bị cáo Cà Văn T1, được bố mẹ cho để làm phương tiện đi lại, bị cáo đã sử dụng chiếc xe này vào hành vi phạm tội đi tìm mua ma túy tại gian đoạn lần đầu do cả ba bị cáo cùng đi tại khu vực Phòng giao dịch của Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh phòng G, thành phố S, nhưng do không mua được ma túy nên bị cáo T1 đã giao cho bị cáo V1 quản lý và đi về nhà, bị cáo không sử dụng chiếc xe trên vào việc phạm tội mua ma túy giai đoạn hai tại khu vực ngõ C thuộc tổ B, phường C đó không tịch thu mà trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 3 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS 26L1 178.38, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Tòng Văn A, bị cáo đã sử dụng chiếc xe này vào hành vi phạm tội, đây là công cụ, phương tiện phạm tội, do đó cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuy nhiên do đây là tài sản chung của vợ chồng bị cáo, là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân, việc bị cáo sử dụng chiếc xe mô tô vào việc phạm tội vợ bị cáo là Cà Thị T3 không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội, gia đình bị cáo chỉ có một chiếc xe máy duy nhất làm phương tiện đi lại, kiếm thu nhập nuôi sống gia đình, do đó không tịch thu mà cần trả lại chiếc xe máy trên cho vợ chồng bị cáo quản lý, sử dụng theo quy định tại điểm b khoản 3 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7] Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo T1, do bị cáo không biết rõ tên tuổi, địa chỉ. Ngoài lời khai của các bị cáo ra không còn chứng cứ nào khác chứng minh, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án. Do đó, buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số ma tuý bị thu giữ.
[8] Về án phí: Do hành vi phạm tội của mình nên cần buộc các bị cáo Cà Văn T1 và Cà Văn V1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đối với bị cáo Tòng Văn A3 người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, miền núicủa tỉnh Sơn La, tại phiên tòa bị cáo có đề nghị xin được miễn án phí hình sự sơ thẩm, do đó cần căn cứ điểm đ khoản 1 điều 12, khoản 6 điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, cần xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Tòng Văn A.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm c khoản 1điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2điều 51; điều 17; điều 38; điều 58Bộ luật Hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Cà Văn T5 tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Cà Văn T6 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/3/2024.
-
Căn cứ điểm c khoản 1điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2điều 51; điều 17; điều 38; điều 58Bộ luật Hình sự:
- Tuyên bố các bị cáo Cà Văn V2 tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Cà Văn V3 (Mười bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/3/2024.
-
Căn cứ điểm c khoản 1điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điều 17; điều 38; điều 58Bộ luật Hình sự:
- Tuyên bố các bị cáo Tòng Văn A phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Tòng Văn A 17 (Mười bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/3/2024.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
-
Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01(Một) chiếc phong bì công văn do Công an thành phố S phát hành còn nguyên niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Cà Văn T1 và đồng phạm tàng trữ trái phép chất ma túy. Bắt ngày 09/3/2024. Gồm: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy bạc; Mẫu lưu ký hiệu T = 0,21 gam”, mặt sau phong bì tại mép giáp lai được dán giấy niêm phong, có 01 dấu tròn đỏ của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S cùng chữ ký, dòng họ tên của thành phần tham gia niêm phong.
- Trả lại cho Cà Văn T1 quản lý, sở hữu, sử dụng 01 (Một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen bạc, BKS: 26B2 - 718.24, số máy JA39E2376335, số khung RLHJA3923MY256468, 01 gương chiếu hậu bé, 01 chìa khóa xe, xe đã qua sử dụng cũ.
-
Trả lại cho vợ chồng chị Cà Thị T3 và Tòng Văn A 01 (Một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS: 26L1- 178.38, số máy JA39E2967430, số khung RLHJA3920NY747016, 01 gương chiếu hậu bé, 01 chìa khóa xe máy, xe đã qua sử dụng cũ.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/6/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S, tỉnh Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La).
-
Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và khoản 1 điều 21, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Cà Văn T1, Cà Văn V1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000,₫ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ điểm đ khoản 1 điều 12, khoản 6 điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Tòng Văn A.
- Về quyền kháng cáo: áp dụng điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo Cà Văn Tùng, Cà Văn V1, Tòng Văn A; Người bào chữa cho bị cáo A; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Cà Văn Y, chị Cà Thị T7 quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/8/2024)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Lương Anh |
Bản án số 94/2024/HS-ST ngày 25/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 94/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cà Văn Tùng + Đồng phạm tàng trữ trái phép chất ma túy
