|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC TỈNH LONG AN Bản án số: 94/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25-6-2024 V/v tranh chấp ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Võ Thu Xuân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Tấn Cường;
- Bà Phạm Thị Ngọc Mai;
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sang– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Đước.
Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Đước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 328/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Hồng T, sinh năm 1968; Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Long An, có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Kim T1, sinh năm 1969; HKTT: Ấp E, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, tạm trú: Ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Long An, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo lời trình bày của nguyên đơn ông Phạm Hồng T cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án như sau:
Ông T và bà T1 bắt đầu chung sống từ năm 1991. Trước khi tiến tới hôn nhân vợ chồng có tìm hiểu nhau được khoảng 01 năm. Đến năm 2001, vợ chồng ông T tiến hành đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã L và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 193/2001 ngày 31/12/2001. Sau khi cưới nhau thì vợ chồng chung sống tại ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Long An. Trong thời gian vợ chồng chung sống thì vợ chồng có mâu thuẫn dẫn đến cãi nhau nhưng không đến nỗi phải nộp đơn ly hôn. Đỉnh điểm mâu thuẫn vợ chồng ông T là lúc người con gái (tức chị Phạm Thị Hồng N) của vợ chồng ông T đi sinh con, mâu thuẫn về vấn đề tiền bạc, cụ thể là trước đó ông T có đưa cho bà Thu một số tiền để chuẩn bị cho con gái đi sinh. Do thời điểm đó vợ chồng người con của ông T làm ăn thất bại, ông T thương con thương cháu nên tự chuẩn bị số tiền cho con gái đi sinh con. Nhưng tới thời điểm chị N đi sinh con, bà T1 đã làm thất thoát số tiền này, con gái của ông T không có tiền để sinh con, ông T phải đi mượn tiền người khác. Ông T không có hỏi bà T1 sử dụng số tiền này vào việc gì. Tuy nhiên, sau đó, ông T biết được bà T1 có liên lạc qua điện thoại với người đàn ông khác, tận mắt ông chứng kiến, bởi vì thời điểm ông T và bà T1 đang mâu thuẫn về tiền bạc thì ông T giữ điện thoại của bà T1 để tìm hiểu bà T1 chuyển tiền cho ai. Sau đó, giữa bà T1 và ông T xảy ra xô xát với nhau. Việc bà T1 có liên lạc với người đàn ông khác nhắn tin qua lại thân mật không chỉ xảy ra một lần, mà xảy ra nhiều lần. Ông T biết nhưng không muốn ly hôn nên bỏ qua.
Nhưng cách đây khoảng 8, 9 tháng, bà T1 nộp đơn yêu cầu ly hôn ở Tòa án, ông T được Tòa án mời đến giải quyết nhưng chưa kịp giải quyết thì giữa ông T và bà T1 đã cãi nhau dưới sân Tòa, ông T bỏ về. Sau đó, ông T biết được là bà T1 đã rút đơn ly hôn. Tuy nhiên, từ thời điểm bà T1 rút đơn ly hôn cho đến nay, vợ chồng không thể hàn gắn tình cảm được nên ông T nộp đơn ly hôn và yêu cầu được ly hôn với bà T1. Ông T đã dọn ra khỏi nhà chung vợ chồng, sống riêng với bà T1 được 01 năm.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Phạm Thị Hồng N, sinh năm 1992 và Phạm Hồng Tuấn A, sinh năm 1999, đều đã trưởng thành.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn bà Nguyễn Kim T1 trình bày:
Bà T1 thống nhất với lời trình bày của ông T về thời gian chung sống, về quan hệ hôn nhân có đăng ký kết hôn, về con chung, tài sản chung, nợ chung.
Về nguyên nhân mâu thuẫn, bà T1 không thống nhất với lời trình bày ông T. Về việc sử dụng tiền bạc, khi vợ chồng của người con gái gặp khó khăn, vợ chồng bà T1 đã cho con gái mượn tiền để xoay sở, việc bà T1 quản lý bao nhiêu tiền sử dụng tiền vào mục đích gì, ông T đều biết. Còn việc ông T cho rằng bà T1 có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác là không có. Bà T1 gọi điện thoại và chuyển tiền cho người khác nhưng đó là bạn bè làm ăn của bà T1. Bà T1 xác định cũng chỉ có liên lạc nhắn tin qua facebook vài lần với người đàn ông đó nhưng không có gì vượt quá giới hạn tình cảm bạn bè bình thường. Việc ông T trình bày bà T1 có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác là do ông T nghi ngờ vô căn cứ, trong khi đó, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn thì ông T đánh bà T1, không cho bà T1 giải thích, không nghe bà T1 giải thích. Bà T1 xác định vợ chồng đã sống ly thân 01 năm nay, ông T đã dọn ra ngoài ở riêng. Theo bà T1, nguyên nhân mâu thuẫn là do phía ông T có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác chứ không do bà T1. Trước đây, bà T1 nộp đơn ly hôn là do bị ông T đánh nhiều lần nên bà T1 mới nộp đơn ly hôn. Tuy nhiên, bà T1 còn thương chồng nên bà T1 không đồng ý ly hôn với ông T. Tại phiên tòa, bà T1 đồng ý ly hôn.
Về con chung: Đều đã trưởng thành.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Ông Phạm Hồng T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Kim T1 có nơi trú tại ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Cần Đước thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Về hôn nhân: Ông Phạm Hồng T và bà Nguyễn Kim T1 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 193/2001 ngày 31/12/2001 nên xác định hôn nhân của vợ chồng bà là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Theo ông Thái nguyên n mâu thuẫn do bà T1 không rõ ràng trong việc sử dụng tiền bạc và bà T1 thường xuyên nhắn tin với người đàn ông khác với lời lẽ thân mật. Còn về phía bà T1, người mà bà T1 liên lạc là bạn bè làm ăn của bà T1 và bà T1 cho rằng do phía ông T có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác chứ không do bà T1. Bà T1 xác định vợ chồng đã ly thân một năm nay. Tại phiên tòa, ông T vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với bà T1, còn bà T1 thì không đưa ra được phương án đoàn tụ. Tại phiên tòa, bà T1 đồng ý ly hôn. Qua đó, có đủ cơ sở xác định tình cảm vợ chồng giữa ông T và bà T1 không còn, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T đối với bà T1.
[3] Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Phạm Thị Hồng N, sinh năm 1992 và Phạm Hồng Tuấn A, sinh năm 1999, đều đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung: Ông T và bà T1 đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[5] Về nợ chung: Ông T và bà T1 đều trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Ông T chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 9, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Hồng T về việc yêu cầu ly hôn đối với bị đơn bà Nguyễn Kim T1.
- Về hôn nhân: Ông Phạm Hồng T được ly hôn với bà Nguyễn Kim T1.
- Về án phí: Ông Phạm Hồng T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí ông T đã nộp theo biên lai thu số 0010607 ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Cần Đước sang án phí.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Võ Thu Xuân |
Bản án số 94/2024/HNGĐ-ST ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 94/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Hồng Thái yêu cầu ly hôn với Nguyễn Kim Thu
