Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 94/2024/HS-ST

Ngày: 25 - 4 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Khánh Linh.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Kim Thu;
  2. Ông Lê Văn Công.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 90/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lưu Ngọc H, sinh ngày 1982 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 45/11 khu phố T, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Văn S (chết) và bà Trương Ngọc H1 (năm sinh không rõ).

Tiền án: Ngày 13/7/2004 bị Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy. Đến ngày 18/12/2007 chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa nộp phạt 5.000.000 đồng và 50.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/12/2023, có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Ông Lê Trung V, sinh năm 1983 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 30/11/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Lưu Ngọc H đến khu vực đường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để gặp một người đàn ông khoảng ngoài 30 tuổi, da ngăm đen, cao khoảng 1m60, nói giọng miền nam để mua ma túy với giá 400.000 đồng. Sau đó, H đem ma túy về nhà tại 4 khu phố T, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương và cất vào trong túi xách để sử dụng dần. Đến khoảng 22 giờ 00 phút ngày 01/12/2023 công an phường V kiểm tra hành chính tại địa chỉ 4 khu phố T, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương của bị cáo Lưu Ngọc H. Tại thời điểm kiểm tra chỉ có H sinh sống tại đây. Qua kiểm tra H khai nhận bản thân sử dụng ma túy, đồng thời H tự nguyện lấy trong túi xách bằng da của mình đang đeo trên người ra 01 túi nylon miệng kéo dính viền đỏ chứa chất tinh thể màu trắng (nghi vấn là ma túy tổng hợp) và 01 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng (nghi vấn là heroin) giao nộp cho cơ quan công an và H khai nhận chất tinh thể màu trắng là ma tùy đá và chất màu trắng là heroin nên Công an phường V tiến hành lập biên bản niêm phong và chuyển Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.

Tang vật thu giữ:

01 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M1); 01 túi nylon miệng kéo dính màu trắng (ký kiệu M2); 01 giỏ xách bằng da.

Theo Kết luận giám định số 657/KL-KTHS (MT) ngày 10/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có trọng lượng (M1) 1,7357 gam loại Methamphetamine; (M2) 0,3232 gam loại heroin.

Tại bản Cáo trạng số 87/CT-VKS-TA ngày 26/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố bị cáo Lưu Ngọc H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An trình bày lời luận tội trong đó có nội dung giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lưu Ngọc H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Đối với đối tượng bán ma túy cho H không rõ nhân thân, địa chỉ nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T chuyển thông tin tội phạm cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh để xác minh xử lý theo thẩm quyền.

Về xử lý vật chứng: Bì thư đã niêm phong ký hiệu 657/PC09 là mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng K Công an tỉnh B và 01 giỏ xách là tang vật trong vụ án, không có giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo trước Tòa. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của người chứng kiến nên Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:

Vào ngày 01/12/2023, tại địa chỉ: 4 khu phố T, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine trọng lượng 1,7357 gam và heroin có trọng lượng là 0,3232 gam mục đích để sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt giữ đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây tác hại xấu đến trật tự công cộng và an toàn xã hội. Ma túy là loại chất gây nghiện nguy hiểm, người sử dụng ma túy sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng đồng thời là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác, tạo nên gánh nặng cho xã hội, gây tha hóa biến chất một bộ phận nhân dân. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đề nghị xử phạt bị cáo về tội danh và mức hình phạt như trên là phù hợp nên chấp nhận.

[6] Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo không rõ nhân thân, địa chỉ nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T chuyển thông tin tội phạm đến Cơ quan cảnh sát điều tra công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh để xác minh xử lý theo thẩm quyền là phù hợp pháp luật.

[7] Về xử lý vật chứng:

- 01 bì thư đã niêm phong ký hiệu 657/PC09 là mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng K Công an tỉnh B; 01 giỏ xách bằng da không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[8]. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  • - Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự;
  • - Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Lưu Ngọc H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Xử phạt bị cáo Lưu Ngọc H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/12/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 bì thư đã niêm phong ký hiệu 657/KL-KTHS (MT) là mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng K Công an tỉnh B; 01 giỏ xách bằng da.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/3/2024).

3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Thuận An;
  • - Chi cục THADS thành phố Thuận An;
  • - Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thuận An;
  • - Cơ quan THAHS Công an thành phố Thuận An;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS, THAHS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Khánh Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 94/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 94/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LƯU NGỌC HÂN - TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger