| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 94/2024/KDTM-PT
Ngày: 24/4/2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hạnh
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Bà Dương Tuyết Mai
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hồng Hòa - Thư ký Toà án
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội: Bà Phạm Thị Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 24/4/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 65/2024/KDTM-PT ngày 02/02/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 38/2023/KDTM-ST ngày 8/9/2023 của Toà án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 143/2024/QĐXXPT-KDTM ngày 20/3/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 195/2024/QĐPT-KDTM ngày 08/4/2024, giữa:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q.
Địa chỉ: Số A L, phường T, quận C, thành phố Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lưu Trung T - Chủ tịch Hội đồng quản trị
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Khiếu Ngọc S - Chuyên viên xử lý nợ Ngân hàng
Bị đơn: Công ty TNHH T3.
Địa chỉ: Số B, đường N, phường G, quận L, thành phố Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Thu H - Giám đốc.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị Thu H
Địa chỉ: Số B, tổ B, phố N, L, Hà Nội.
Bà H ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Thu T1 - Sinh 1966
Địa chỉ: Số B, tổ A, đường N, phường N, quận L, thành phố Hà Nội (Giấy ủy quyền số công chứng 1667/2024/GUQ lập ngày 23/4/2024 tại Văn phong công chứng H4)
Luật sư Nguyễn Thị Kim T2 - Văn phòng L1, Đoàn luật sư thành phố H bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Hà
Ông Phạm Mạnh H1
Địa chỉ: Địa chỉ: Số B, tổ B, phố N, L, Hà Nội.
Bà Nguyễn Thị Thu T1, ông Nguyễn Văn L, chị Nguyễn Ánh N, anh Nguyễn Tài K (Chị N ủy quyền cho bà T1 tham gia tố tụng)
Địa chỉ: Số B, tổ A, đường N, phường N, quận L, thành phố Hà Nội.
Chị Hồ Thị Tố H2
Địa chỉ: Số 1, ngõ A, ngách E, đường N, quận L, thành phố Hà Nội.
(Nguyên đơn, bà T1 và luật sư có mặt; Bị đơn cùng những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Ngân hàng TMCP Q (Gọi tắt là Ngân hàng) và Công ty TNHH T3 (Gọi tắt là Công ty T3) đã ký Hợp đồng tín dụng số 486.12.006.994175.TDHM.DN ngày 29/6/2012.
Nội dung thể hiện việc Ngân hàng cấp hạn mức tín dụng cho Công ty T3 số tiền 7.000.000.000đồng; Mục đích vay: bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh thương mại; Thời hạn vay tối đa: ngày đáo hạn cuối cùng của một khoản tín dụng thuộc hạn mức tín dụng là tối đa 05 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên của khoản tín dụng đó; lãi suất cho vay, biên độ lãi suất và kỳ điều chỉnh lãi suất quy định trong từng khế ước nhận nợ; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất đang áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn và cố định trong suốt thời gian quá hạn;Thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty T3 vay theo 07 khế ước nhận nợ, lãi suất tại thời điểm giải ngân là 13%/năm. Tổng số tiền giải ngân là 6.182.263.272đồng.
Ngày 10/01/2013, các bên ký văn bản sửa đổi khế ước nhận nợ về việc gia hạn đối với các khế ước.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay của Công ty T3 gồm:
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 115, tờ bản đồ số 330-8, địa chỉ: số B N, tổ A, N, quận L, thành phố Hà Nội được UBND quận L cấp giấy chứng nhận ngày 18/9/2008 mang tên bà Nguyễn Thị Thu H.
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 19, tờ bản đồ số 16, địa chỉ: tổ A, phường B, quận L, thành phố Hà Nội được UBND quận L cấp giấy chứng nhận ngày 10/10/2008 mang tên bà Nguyễn Thị Thu H.
Tuy nhiên, Công ty T3 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng đã xử lý tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 19, tờ bản đồ số 16, địa chỉ: tổ A, phường B, quận L, thành phố Hà Nội mang tên bà Nguyễn Thị Thu H. Số tiền thu được từ việc bán đấu giá tài sản là 3.600.760.000đồng được trừ vào khoản nợ gốc.
Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc Công ty T3 số tiền tạm tính đến ngày 24/4/2023 là 10.155.990.211đồng gồm nợ gốc 2.512.789.817đồng; nợ lãi trong hạn 14.223.278đồng; nợ lãi quá hạn 7.626.790.140đồng; phạt chậm trả lãi 2.186.976đồng. Công ty T3 thanh toán phần tiền phạt phát sinh theo lãi suất quá hạn thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 486.12.006.994175.TDHM.DN ngày 29/6/2012 và các khế ước nhận nợ đã ký kể từ ngày 25/4/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Công ty T3 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nếu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 115, tờ bản đồ số: 330-8 tại địa chỉ số B N, tổ A, phường N, quận L, thành phô Hà Nội;
- Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì Công ty TNHH T3 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng MB.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Ngân hàng yêu cầu buộc Công ty T3 phải thanh toán số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 06/9/2023 là 10.338.912.039 đồng.
Bị đơn Công ty TNHH T3 do bà Nguyễn Thị Thu H trình bày:
Việc ký kết hợp đồng tín dụng giữa Công ty T3 với Ngân hàng đúng như Ngân hàng trình bày. Công ty có vay của Ngân hàng F. Công ty đã trả được một phần nợ, hiện nay còn nợ các khoản:
- Gốc: 2.512.789.817₫
- Lãi trong hạn: 14.223.278đ
- Lãi quá hạn: 7.626.790.140₫
- Phạt chậm trả lãi: 2.186.976₫
- Tổng cộng: 10.155.990.211₫
Tài sản thế chấp là nhà số B N, L, Hà Nội đã được cấp sổ đỏ tên bà H. Do kinh tế khó khăn, bà H xin Ngân hàng miễn giảm lãi suất và giãn nợ cho Công ty hàng tháng từ tháng 7 đến tháng 9/2023 sẽ trả cho Ngân hàng 10.000.000đ tiền gốc và chậm nhất đến ngày 30/10/2023 sẽ tất toán toàn bộ khoản vay. Trong trường hợp Công ty vi phạm thỏa thuận Công ty đồng ý xử lý tài sản đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp hai bên đã ký. Tài sản thế chấp thuộc quyền sử dụng và sở hữu của vợ chồng chị H, đến nay không có tranh chấp với ai. Hiện nay chị H đang cho vợ chồng chị T1 (chị gái chị H) ở nhờ. Công ty vẫn đang hoạt động tại địa chỉ số B, Nguyễn Văn C, L.
Tại phiên tòa sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thu T1 người đại diện theo ủy quyền của bà H, ông Mạnh H1 và chị Á không đồng ý với việc Ngân hàng bán đấu giá tài sản của chị H1, anh H1 tại địa chỉ Tổ A, phường B, Long Biên H với giá là 3.600.760.000 đồng. Hiện nay chị H1, anh H1 đã gửi đơn đến VKSND Cấp Cao và TAND Tối cao đề nghị xem xét kháng nghị giám đốc thẩm. Ngày 04/7/2023, TAND Tối cao đã thông báo chuyển đơn của anh chị đến TAND Cấp Cao tại Hà Nội. Do đó chị T1 đề nghị tạm dừng phiên tòa để chờ kết quả giải quyết của TAND cấp trên. Trường hợp Tòa án nhân dân quận Long Biên vẫn tiến hành xét xử đề nghị HĐXX phân chia các khoản nợ phải trả theo từng tài sản đảm bảo căn cứ vào thỏa thuận về giá trị tài sản theo Hợp đồng thế chấp đã ký kết. Chị T1 cũng xin thay đối lời khai và thỏa thuận với Ngân hàng về thời hạn thanh toán khoản nợ vào ngày 30/10/2023. Với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và đại diện ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị T1 không có ý kiến và yêu cầu gì, nhất trí với lời trình bầy của phía bị đơn.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Thu T1, đồng thời chị T1 là đại diện ủy quyền cho chị Nguyễn Ánh N, chị Nguyễn Thị Thu H, anh Phạm Mạnh H1 trình bày:
Hiện nay gia đình chị H1 chỉ còn một tài sản duy nhất là căn nhà đang đảm bảo cho khoản vay của Công ty T3 tại Ngân hàng nói trên mong Ngân hàng cho gia đình chị thời gian để thu xếp trả nợ. Về tài sản thế chấp các bên không có tranh chấp với nhau. Hiện chị T1 cùng chồng là ông Nguyễn Văn L và con trai là Nguyễn Tài K đang ở tại số nhà B, N, L, Hà Nội, còn chị Nguyễn Ánh N (là con gái của chị T1 và anh L) có đăng ký hộ khẩu tại đây nhưng đã đi lấy chồng, hiện đang ở tại nhà chồng. Quá trình sống tại đây vợ chồng chị T1 không tôn tạo sửa chữa gì thêm và không có yêu cầu gì. Năm 2022, cháu Nguyễn Tài K bị Bệnh viện T4 chuẩn đoán là rối loạn phân liệt thể F21. Nhưng các đương sự đều không có yêu cầu đề nghị giám định tâm thần đối với cháu Tài K.
Chị Hồ Thị Tố H2 trình bày: Chị là người thuê nhà tầng 1 để bán hàng, từ khi thuê đến nay chị không tu sửa hay cải tạo gì đối với nhà đất, chị cũng không có ý kiến gì đối với vụ án đòi nợ do Ngân hàng khởi kiện Công ty T3.
Bản án kinh doanh sơ thẩm số 38/2023/KDTM-ST ngày 8/9/2023 của Toà án nhân dân quận Long Biên xét xử đã quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q đối với Công ty TNHH T3.
- Buộc Công ty TNHH T3 phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q số tiền nợ gốc, nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn theo thỏa thuận được ký kết giữa hai bên theo Hợp đồng tín dụng 486.12.006.994175. TDHM.DN ngày 29/06/2012 và 07 khế ước nhận nợ (cụ thể: Khế ước LD1231100526 ngày 06/11/2012; Khế ước LD1229100322 ngày 17/10/2012; Khế ước LD1229000381 ngày 15/10/2012; khế ước LD1228900139 ngày 15/10/2012; khế ước LD1228600619 ngày 12/10/2012, khế ước LD1228600095 ngày 12/10/2012; khế ước LD1228400576 ngày 10/10/2012) tạm tính đến ngày 06/9/2023: nợ gốc: 2.512.789.817 đồng, nợ lãi trong hạn: 14.223.279 đồng, nợ lãi quá hạn: 7.811.898.943 đồng. Tổng cộng: 10.338.912.039₫.
- Kể từ ngày 07/9/2023 cho đến khi thi hành án xong, Công ty TNHH T3 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này.
- Trường hợp trong hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ kèm theo và được điều chỉnh phù hợp với lãi suất cho vay của Ngân hàng Q theo từng thời kỳ nhưng không trái với quy định pháp luật.
- Trong trường hợp Công ty TNHH T3 không trả được khoản nợ trên thì Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên và tổ chức phát mại tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng là tài sản sau: Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 115, tờ bản đồ số 330-8 tại địa chỉ số B N, tổ A N, L, Hà Nội được UBND quận L cấp giấy chứng nhận ngày 18/9/2008 mang tên bà Nguyễn Thị Thu H theo Hợp đồng thế chấp 248.2011/HĐTC ngày 10/11/2011 và Phụ lục hợp đồng thế chấp ngày 22/6/2012 lập tại Văn phòng C1 mà các bên đã ký kết và theo quy định của pháp luật.
- Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của Công ty với Ngân hàng. Trường hợp số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán kết khoản nợ thì Công ty vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc Công ty T3 phải thanh toán tiền phạt chậm trả lãi là 2.186.976 đồng”
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm bà Nguyễn Thị Thu H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bà Nguyễn Thị Thu T1 - Người đại diện cho bà H (Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan) giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự trình bày luận cứ có nội dung chính: Bản án sơ thẩm hết sức sơ sài khi chỉ căn cứ lời khai của bà T1 và Ngân hàng để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, không phân tích, đánh giá chứng cứ và việc gửi các thông báo thời hạn quá hạn của khoản nợ cho Công ty T3. Không phân tích, giải quyết các yêu cầu của Bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Tài sản tại số B, Nguyễn Văn C đang được Nguyên đơn yêu cầu phát mại trong trường hợp Bị đơn không trả được nợ được bảo đảm cho khoản vay 2.047.200.000đ không tương xứng với dư nợ gốc còn lại của Công ty T3 2.512.789.817đ. Hợp đồng thế chấp không có dòng thể hiện tài sản này bảo đảm cho tất cả các khoản nợ của Công ty T3 tại Ngân hàng M1. Số tiền 2.512.789.817đ có liên quan đến tài sản thế chấp đã bán đấu giá hay không. Bà H đã có đơn đề nghị Tòa án cấp sơ thẩm tạm đình chỉ vụ án tranh chấp này để chờ kết quả giải quyết Đơn khiếu nại của bà về bản án đã có hiệu lực giải quyết về yêu cầu hủy kết quả bán đấu giá tài sản của bà là nhà đất tại tổ A, phường B, L nhưng không được chấp nhận. Đề nghị HĐXX phúc thẩm xem xét tách hai tài sản thế chấp riêng biệt để xác định tài sản tại số B, Nguyễn Văn C là tài sản bảo đảm cho khoản vay của Giấy nhận nợ nào. Không có căn cứ xác định tài sản số 253, Nguyễn Văn C bảo đảm cho khoản nợ gốc 2.512.789.817đ. Ngân hàng không có thông báo cho bà H, bà T1 khi khoản vay của Công ty T3 bị chuyển nợ quá hạn.
Đề nghị: Chấp nhận kháng cáo của bà H, số nợ hiện tại của Công ty T3 thuộc trách nhiệm trả nợ của Công ty. Không chấp nhận yêu cầu phát mại của Ngân hàng đối với nhà đất số B, Nguyễn Văn C.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm và đề xuất hướng giải quyết vụ án có nội dung chính: Tại phiên tòa HĐXX đã thực hiện đúng quy định và yêu cầu chung của phiên tòa phúc thẩm: Thành phần HĐXX phúc thẩm, phạm vi xét xử phúc thẩm đúng quy định tại Điều 64 và Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự. Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 51 BLTTDS. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Các đương sự đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Tại phiên tòa, các đương sự đã được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các diều 70,71,72, 73 và 74 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung kháng cáo: Thủ tục kháng cáo của bà H là hợp lệ. Nguyên đơn và Bị đơn không có kháng cáo đối với bản án.
Hợp đồng tín dụng là hợp pháp và có hiệu lực thi hành. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên Bị đơn phải trả nợ gốc còn nợ là có căn cứ. Tại Tòa sơ thẩm, bà H (Đại diện Bị đơn) đã thừa nhận số nợ gốc và lãi còn nợ Ngân hàng tại Bản tự khai, phiên hòa giải, công khai chứng cứ... và không có kháng cáo nội dung này. Đối với nợ lãi, Tòa án sơ thẩm tính lãi trên số nợ gốc theo thỏa thuận là phù hợp. Do Bị đơn vị phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng đã bán đấu giá một tài sản là nhà đất tại tổ A, phường B. Bà H có đơn khởi kiện yêu cầu hủy kết quả đấu giá nhưng đã có bản án phúc thẩm tuyên không chấp nhận yêu cầu. Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện của bà H đề nghị tạm đình chỉ giải quyết chờ kết quả giám đốc của VKS cấp trên nhưng chưa có Quyết định tạm đình chỉ thi hành án nên yêu cầu này không được cấp sơ thẩm chấp nhận là phù hợp.
Đối với tài sản nhà 253, Nguyễn Văn C, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định căn cứ vào khoản 1.2 Điều 1 của hợp đồng thế chấp để cho rằng hạn mức dư nợ được vay chỉ thể hiện hạn mức vay nợ tối đa cho phép tính trên giá trị định giá tài sản thế chấp đã được các bên thống nhất, không phải là căn cứ xác định tỷ lệ phân chia số tiền nợ phải thanh toán tính trên từng tài sản thế chấp khi phải xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là không đúng nội dung của khoản 1.2 Điều 1 hợp đồng thế chấp. Đề nghị HĐXX sửa lại phần nội dung về xử lý tài sản bảo đảm của bản án sơ thẩm về việc chia tách nghĩa vụ bảo đảm của tài sản, chấp nhận một phần kháng cáo của bà H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thu H (Bà H) nộp trong thời hạn luật định, người kháng cáo đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên kháng cáo là hợp lệ, được chấp nhận.
Xét về nội dung kháng cáo: Bà H với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (Bên thế chấp tài sản) kháng cáo toàn bộ bản án, bên cạnh đó, bà H đồng thời là người đại diện theo pháp luật của Công ty T3 (Bên được thế chấp tài sản) nên HĐXX sẽ xem xét, đánh giá toàn bộ hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản mà Công ty T3, bà Nguyễn Thị Thu H đã ký kết với Ngân hàng.
Về Hợp đồng tín dụng số 486.12.006.994175.TDHM.DN ngày 29/6/2012 (Hợp đồng tín dụng) giữa Ngân hàng TMCP Q (Ngân hàng) và Công ty TNHH T3 (Công ty T3) được ký kết tự nguyện, đã đảm bảo về điều kiện chủ thể ký kết. Nội dung của hợp đồng đúng quy định pháp luật nên có hiệu lực thi hành đối với các bên.
Thực hiện hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty T3 vay theo 07 khế ước nhận nợ với tổng số tiền 6.182.173.372đồng. Tại các khế ước nhận nợ đều quy định thời hạn vay, ngày đáo hạn, lãi suất vay cố định 13%/năm.
Ngày 10/01/2013, Ngân hàng và Công ty T3 ký Văn bản sửa đổi khế ước nhận nợ về việc gia hạn đối với các khế ước nhận nợ. Cụ thể:
| Khế ước | Ngày nhận nợ | Ngày đến hạn theo khế ước | Ngày đến hạn sau khi gia hạn |
|---|---|---|---|
| LD1231100526 | 06/11/2012 | 06/02/2013 | 06/5/2013 |
| LD1229100322 | 17/10/2012 | 17/01/2013 | 17/4/2013 |
| LD1229000381 | 15/10/2012 | 15/01/2013 | 16/4/2013 |
| LD1228900139 | 15/10/2012 | 15/01/2013 | 15/4/2013 |
| LD1228600619 | 12/10/2012 | 12/01/2013 | 12/4/2013 |
| LD1228600095 | 12/10/2012 | 12/01/2013 | 12/4/2013 |
| LD1228400576 | 10/10/2012 | 10/01/2013 | 10/4/2013 |
Tài sản bảo đảm cho khoản vay của Công ty T3 tại Ngân hàng gồm:
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 115, tờ bản đồ số 330-8, địa chỉ: số B N, tổ A, N, quận L, thành phố Hà Nội (Tài sản tại số B, Nguyễn Văn C) được UBND quận L cấp giấy chứng nhận ngày 18/9/2008 mang tên bà Nguyễn Thị Thu H. Nghĩa vụ được bảo đảm cho các khoản vay của bên vay vốn với mức dư nợ tối đa 2.263.200.000đồng. Ngày 22/6/2012, các bên ký Phụ lục hợp đồng (bút lục 103) sửa đổi mức dư nợ tối đa thành 2.047.200.000đồng.
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 19, tờ bản đồ số 16, địa chỉ: tổ A, phường B, quận L, thành phố Hà Nội (Tài sản tại tổ A) được UBND quận L cấp giấy chứng nhận ngày 10/10/2008 mang tên bà Nguyễn Thị Thu H. Nghĩa vụ được bảo đảm cho toàn bộ nghĩa vụ của bên vay vốn với mức dư nợ tối đa 3.340.000.000đồng. Ngày 22/6/2012, các bên ký Phụ lục hợp đồng (bút lục 119) sửa đổi mức dư nợ tối đa thành 4.176.200.000đồng.
Thực hiện Hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty T3 vay 6.182.263.272đ. Đối chiếu các bảng tính lãi theo từng khế ước nhận nợ do Ngân hàng xuất trình thì quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ, Công ty T3 mới trả được 68.623.455đồng nợ gốc; 392.010.665đồng nợ lãi trong hạn; 20.553.897đồng nợ lãi quá hạn.
Do đó số tiền nợ gốc Công ty T3 còn phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc theo hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ là 6.182.263.272đồng - 68.623.455đồng - 3.600.760.000đồng = 2.512.879.817đồng, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu đòi nợ với khoản tiền gốc là có căn cứ.
Về yêu khoản tiền nợ lãi: Tính đến ngày 06/9/2023 ngoài số nợ gốc Công ty T3 còn phải trả Ngân hàng khoản nợ lãi trong hạn 14.223.279đồng + nợ lãi quá hạn 7.811.898.943đồng. Bản án sơ thẩm buộc Công ty T3 phải thanh toán trả Ngân hàng số tiền cả gốc và lãi (tạm tính đến 06/9/2023) 10.338.912.039đồng là có căn cứ.
Về việc xử lý tài sản bảo dảm: Do Công ty T3 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ngày 26/12/2016, Ngân hàng đã bán đấu giá tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại tổ A, phường B, giá bán 3.600.760.000đồng được trừ vào khoản nợ gốc.
Bà H kháng cáo cho rằng Ngân hàng đã xử lý tài sản bảo đảm không đúng thỏa thuận tại Hợp đồng thế chấp và Điều 63 Nghị định số 163/NĐ-CP.
Xét thấy: Bà H đã có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy kết quả bán đấu giá tài sản đối với nhà đất tại tổ A, phường B. Yêu cầu khởi kiện này đã được Tòa án 2 cấp sơ thẩm và phúc thẩm xét xử, quyết định tại các Bản án dân sự sơ thẩm số 89/2021/DS-ST ngày 08/7/2021 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa và Bản án phúc thẩm số 336/2022/DS-PT ngày 23/8/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Các bản án đều không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H.
Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của Ngân hàng:
Do ngân hàng đã bán đấu giá tài sản bảo đảm tại tổ A, phường B, quận L, thành phố Hà Nội nên Ngân hàng chỉ yêu cầu được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên/phát mại đối với tài sản bảo đảm còn lại là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số B, đường N.
Xét thấy: Hợp đồng thế chấp số công chứng 248.2011/HĐTC ngày 10/11/2011 và Phụ lục hợp đồng thế chấp ngày 22/6/2012 được ký kết tự nguyện, chủ thể tham gia ký kết có đủ năng lực hành vi dân sự, tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của người thế chấp. Hợp đồng thế chấp được lập thành văn bản và chứng thực đúng quy định. Nội dung hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật. Tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm nên Hợp đồng có hiệu lực thi hành. Hợp đồng thế chấp và phụ lục hợp đồng thế chấp đã quy định: "Nghĩa vụ được bảo đảm cho toàn bộ nghĩa vụ của bên vay vốn tại Ngân hàng TMCP Q ....với mức dư nợ tối đa là 2.047.200.000đồng". Như vậy, phạm vi bảo đảm của tài sản số B N đã được các bên thống nhất bảo đảm cho dư nợ gốc tối đa 2.047.200.000đồng.
Tuy nhiên, theo Giấy chứng nhận doanh nghiệp của Công ty T3 mã DN; 0102033747, đăng ký lần đầu ngày 29/8/2008 do Phòng Đăng ký Kinh doanh - Sở Kế hoạch Đầu tư thành phố H cấp thì Công ty T3 là Công ty TNHT3 gồm hai thành viên là bà Nguyễn Thị Thu H và ông Phạm Mạnh H1 (Chồng bà H1). Tài sản thế chấp bảo đảm cho khoản vay của Công ty tại Ngân hàng cũng là tài sản thuộc sở hữu bà H1 và ông Mạnh H1, trong đó 1 tài sản đã bị Ngân hàng B và toàn bộ số tiền bán đấu giá đã được trừ vào số nợ gốc hiện Công ty còn nợ Ngân hàng, tài sản còn lại Ngân hàng đề nghị được xử lý trong trường hợp Công ty T3 không trả được nợ là hợp lý và cũng là đảm bảo tính khả thi của bản án, không làm thiệt hại đến quyền lợi ích hợp pháp của ông Mạnh H1 và bà Thu H. Vì vậy, HĐXX phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà H.
Bà H (Đại diện cho Công ty T3) có đơn xin miễn án phí cho Công ty T3 nhưng theo quy định tại Nghị quyết 326/UBTVQH thì pháp nhân không phải đối tượng được miễn án phí nên yêu cầu này cũng không được chấp nhận.
Tòa án cấp sơ thẩm xác định bà Nguyễn Thị Thu T1 là người đại diện theo ủy quyền của Công ty T3 dựa vào Bản tự khai của cá nhân bà H lập tại Tòa án sơ thẩm “...tôi đề nghị ủy quyền cho chị gái tôi toàn quyền quyết định cho chị Nguyễn Thị Thu Thủy s 1966 hiện sinh sống tại B N, L, Hà Nội giải quyết mọi tranh chấp với Ngân hàng M1 liên quan tới khoản vay của Công ty TNHH T3”.
Trước đó, tại Hợp đồng ủy quyền lập ngày 21/4/2017, (Trước khi Ngân hàng khởi kiện 01/6/2023 hơn 6 năm) và trước khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án ngày 02/02/2024 (Gần 7 năm) bà H, ông Mạnh H1 đã ủy quyển cho bà T1 liên hệ, làm việc với Ngân hàng M1 cùng các cơ quan có thẩm quyền để giải quyết các công việc có liên quan đến hợp đồng thế chấp theo quy định: Nhận, ký nhận các văn bản, tài liệu, quyết định có liên quan, khiếu nại, khiếu kiện đối với các văn bản tài liệu, quyết định của cơ quan có thẩm quyền liên quan đến hợp đồng thế chấp.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Nguyễn Thị Thu T1 xác định bà vẫn nhận ủy quyền của bà H1, ông M và chị Á, không đề cập đến việc nhận ủy quyền của ông Mạnh H1 và Công ty T3. Công ty T3 cũng không có bất cứ một văn bản nào thể hiện việc ủy quyền cho bà T1 đại diện cho Công ty tham gia tố tụng.
Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm đưa bà T1 làm người đại diện theo ủy quyền cho Công ty T3 và làm người đại diện cho ông Phạm Mạnh H1 là không phù hợp. Tuy nhiên sai sót nêu trên không làm thay đổi nội dung vụ án, không làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà H1, ông Mạnh H1 nên không phải là căn cứ để hủy án sơ thẩm. Cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
Quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Từ những nhận định trên.
Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
QUYẾT ĐỊNH
- Giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 38/2023/KDTM-ST ngày 8/9/2023 của Toà án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Án phí phúc thẩm: Miễn toàn bộ án phí phúc thẩm cho bà Nguyễn Thị Thu H vì có xác nhận có hoàn cảnh khó khăn và có đơn xin miễn án phí. Hoàn trả bà Nguyễn Thị Thu H 2.000.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 66254 ngày 05/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy H3 |
Bản án số 94/2024/KDTM-PT ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 94/2024/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: y án
