TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA TỈNH SƠN LA | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 94/2024/HS-ST
Ngày 23-5-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lù Văn Mẳn và bà Quàng Thị Hỏa.
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Trà My - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên tòa: Ông Bế Hoàng Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 100/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Cà Văn H, sinh ngày 30/10/1969, tại C, M, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản L, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 07/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Đảng viên đã đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 95-QĐ/UBKTHU ngày 07/02/2024; Con ông Cà Văn N, (đã chết) và con bà Cà Thị Đ, sinh năm 1924; có vợ là Cà Thị Ư, (đã chết) và có 03 con, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1993; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa có án tích hoặc xử lý, xử phạt vi phạm hành chính khác; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/01/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa: Ông Nguyễn Bá L, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh S. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 25 phút ngày 22/01/2024, công an xã C, huyện M phát hiện, bắt quả tang Cà Văn H đang có hành vi cất giấu trái phép 01 gói nilon màu trắng, bên trong có 16 gói nilon, gồm 13 gói nilon màu xanh, bên trong chứa các cục màu trắng nghi là H1 và 03 gói nilon màu hồng, bên trong chứa các cục màu trắng nghi là Heroine với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời
Vật chứng thu giữ: 01 gói nilon màu trắng, bên trong có 16 gói nilon, gồm 13 gói nilon màu xanh, bên trong chứa các cục màu trắng nghi là H1 và 03 gói nilon màu hồng, bên trong chứa các cục màu trắng nghi là Heroine
Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Cà Văn H. Kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Ngày 22/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M và Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tiến hành bóc mở niêm phong và cân tịnh vật chứng thu giữ. Kết quả xác định: chất bột màu trắng trong 16 gói nilon có tổng khối lượng cân tịnh là 0,94 gam, trích ra 0,86 gam làm mẫu giám định ký hiệu lần lượt từ H1 đến H16, còn lại 0,08 gam ký hiệu H16A gửi kho vật chứng. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ra quyết định trưng cầu giám định số 124. Tại kết luận giám định số 407 ngày 24/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu H1 đến H16 đều là ma túy, loại Heroine. Tổng khối lượng mẫu gửi giám định là 0,86 gam; tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,94 gam loại Heroine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Cà Văn H và Hoàng Văn M khai nhận: Ngày 20/01/2024 Cà Văn H gặp một người đàn ông dân tộc Mông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) tại khu vực bản L, xã C, huyện M. Cà Văn H đã mua được của người này 01 gói Heroine với số tiền 2.000.000 đồng. Sau khi mua được Heroine Cà Văn H mang về chia thành 17 gói nhỏ gồm 14 gói nilon màu xanh và 03 gói nilon màu hồng rồi gói chung vào 01 gói nilon màu trắng với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Khoảng 17 giờ ngày 20/01/2024 khi Cà Văn H đang ở nhà thì có Hoàng Văn M đến hỏi mua ma túy, Cà Văn H đồng ý bán cho Hoàng Văn M 01 gói Heroine với số tiền 50.000 đồng. Sau khi mua được H1, Hoàng Văn M mang về sử dụng hết, số tiến bán ma túy Cà Văn H đã tiêu xài cá nhân hết.
Khoảng 09 giờ 25 phút ngày 22/01/2024 Hoàng Văn M và Lường Văn C đến nhà H chơi, khi đang ngồi uống nước thì bị lực lượng Công an xã C, huyện M kiểm tra, Cà Văn H tự giác giao nộp số Heroine cất giấu, còn Hoàng Văn M và Lường Văn C bỏ chạy.
Đối với người đàn ông dân tộc Mông theo lời khai của Cà Văn H là người đã bán Heroine cho Cà Văn H vào ngày 20/01/2024, Cà Văn H không biết tên, tuổi, địa chỉ của người đàn ông này, việc trao đổi, mua bán ma túy không có ai biết hoặc chứng kiến. Ngoài lời khai của Cà Văn H Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M không thu thập được tài liệu chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để mở rộng điều tra vụ án.
Đối với Hoàng Văn M là người mua Heroine của Cà Văn H vào ngày 20/01/2024: Do nghiện ma túy nên Hoàng Văn M mua ma túy của Cà Văn H để sử dụng, ngoài ra không có mục đích nào khác. Số Heroine Hoàng Văn M mua của Cà Văn H đã sử dụng hết, Hoàng Văn M chưa có tiền án tiền sự nên hành vi của Hoàng Văn M không đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Ngày 25/01/2024 Hoàng Văn M đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 88/QĐ-TA của Tòa án nhân dân huyện Mường La.
Đối với việc Hoàng Văn M và Lường Văn C đến nhà Cà Văn H ngày 22/01/2024: Hoàng Văn M và Lường Văn C chưa mua Heroine của Cà Văn H nên không có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự đối với Hoàng Văn M, Lường Văn C, Cà Văn H. Lường Văn C hiện không có mặt tại địa phương, do đó không lấy được lời khai và triệu tập đối với Lường Văn C.
Tại Bản cáo trạng số 62/CT-VKS-ML ngày 07/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo Cà Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Cà Văn H đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Cà Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt Cà Văn H từ 30 tháng đến 36 tháng tù giam; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an huyện M được niêm phong dán kín, (gồm có: 01 vỏ phong bì niêm phong cũ đã bóc mở, 13 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu hồng, 01 túi nilon màu trắng ký hiệu H16A = 0,08 gam).
Đề nghị truy thu của bị cáo số tiền 50.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án: Đề nghị miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo khẳng định bị cáo bị khởi tố, truy tố, xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Song đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng, pháp luật Nhà nước và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì bị cáo là người dân tộc sống ở vùng điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ hiểu biết, nhận thức hạn chế, bị cáo tự nguyện khai báo hành vi phạm tội chưa bị phát hiện, sau khi phạm tội đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo. Đề nghị miễn án phí và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, vì bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thu nhập không ổn định, tài sản không có giá trị lớn.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Cà Văn H thừa nhận: Ngày 22/01/2024 bị cáo Cà Văn H đã có hành vi cất giấu trái phép 0,94 gam Heroine với mục đích để bán kiếm lời. Ngoài ra vào ngày 20/01/2024 bị cáo Cà Văn H đã có hành vi bán trái phép 01 gói Heroine cho Hoàng Văn M với số tiền 50.000 đồng.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, thông báo kết quả giám định vật chứng của vụ án, lời khai của người làm chứng, người chứng kiến.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Cà Văn H đã thực hiện hành vi Mua bán trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy, được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình làm là nguy hiểm cho xã hội và bản thân, nhưng do nghiện ma túy và hám lời bất chính nên bị cáo đã thực hiện tội phạm. Hành vi cất giấu trái phép Heroine để sử dụng và bán kiếm lời và hành vi bán trái phép Heroine cho Hoàng Văn M của bị cáo Cà Văn H được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, tội phạm bị cáo thực hiện đã hoàn thành. Hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo là thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội ở địa phương.
[3] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Toà cần xem xét áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, vì sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
[4] Về hình phạt
Về hình phạt chính: Tòa cần xem xét cân nhắc xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo. Việc cách ly bị cáo một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có thể đảm bảo được điều kiện và thời gian để bị cáo cải tạo, giáo dục trở thành người tốt có ích cho xã hội và gia đình, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa giáo dục chung.
Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 251 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo, bị cáo thu nhập không ổn định, tài sản không có gì giá trị lớn, bị cáo không có khả năng thi hành, Toà cần xem xét không áp dụng đối với bị cáo.
[5] Đối với người đàn ông bán trái phép chất ma túy cho bị cáo Cà Văn H, cơ quan chức năng không có cơ sở chứng minh, xử lý.
Đối với Hoàng Văn M: Do nghiện ma túy nên Hoàng Văn M mua ma túy của Cà Văn H để sử dụng, ngoài ra không có mục đích nào khác. Số Heroine Hoàng Văn M mua của Cà Văn H đã sử dụng hết, Hoàng Văn M chưa có tiền án tiền sự nên hành vi của Hoàng Văn M không đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Ngày 25/01/2024 Hoàng Văn M đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 88/QĐ-TA của Tòa án nhân dân huyện Mường La.
Đối với việc Cà Văn H và Hoàng Văn M khai ngày 22/01/2024 Hoàng Văn M và Lường Văn C đến nhà Cà Văn H để mua ma túy nhưng chưa kịp mua thì bị bắt: Cà Văn H chưa lấy ma túy ra khỏi túi, Hoàng Văn M và Lường Văn C chưa hỏi mua ma túy, chưa đưa tiền cho Cà Văn H. Do đó hành vi của Cà Văn H không thuộc vào điểm b “Phạm tội 02 lần trở lên”, điểm c “Đối với 02 người trở lên” khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; hành vi của Hoàng Văn M, Lường Văn C không đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[6] Về vật chứng của vụ án:
01 phong bì công văn của Công an huyện M được niêm phong dán kín, (gồm có: 01 vỏ phong bì niêm phong cũ đã bóc mở, 13 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu hồng, 01 túi nilon màu trắng ký hiệu H16A = 0,08 gam). Là của bị cáo dùng thực hiện tội phạm, là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
[7] Về số tiền 50.000 đồng bị cáo Cà Văn H bán ma túy cho Hoàng Văn M vào ngày 20/01/2024: Đây là số tiền bị cáo bán ma túy mà có do vậy cần truy thu để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, bị cáo và người bào chữa xin miễn nộp tiền án phí. Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015:
Tuyên bố: bị cáo Cà Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Cà Văn H 30 (Ba mươi) tháng tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 22/01/2024).
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an huyện M được niêm phong dán kín, (gồm có: 01 vỏ phong bì niêm phong cũ đã bóc mở, 13 mảnh nilon màu xanh, 01 mảnh nilon màu hồng, 01 túi nilon màu trắng ký hiệu H16A = 0,08 gam).
(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La).
Truy thu của bị cáo Cà Văn H số tiền 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án: Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Cà Văn H.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 23/5/2024.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) Lê Thị Thu Hà |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ (Ký tên, ghi rõ họ tên) | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |
Bản án số 94/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 94/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án số 94 ngày 23.5.2024 Cà Văn H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
