|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 94/2023/HS-ST Ngày: 22/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Tố Uyên.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Khanh và bà Khương Thị Lơ
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mừng - Thư ký Toà án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2023, tại điểm cầu Trung tâm tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng và điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 93/2023/HSST ngày 30 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023, đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Lê Văn D, sinh năm 1994; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi sinh và cư trú: Thôn Vĩnh Lại, xã Cẩm Đông, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Lê Văn D1 (đã chết) và bà Đào Thị S, sinh năm 1964, bị cáo chưa có vợ. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Bản án số 61/2015/HSPT ngày 30/7/2015, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xử phạt 7 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 14 tháng, về tội Trộm cắp tài sản (Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và các quyết định khác của Bản án); Tại Bản án số 54/2019/HSST ngày 27/11/2019, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương xử phạt 14 tháng tù, về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và các quyết định khác của Bản án). Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/7/2023, đến ngày 11/7/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Hải Dương;
- Họ và tên: Lê Tuấn T, sinh năm 1993; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi sinh và cư trú: Thôn Chùa, xã Cẩm Đông, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Lê Văn Q (đã chết) và bà Vũ Thị N, sinh năm 1960, bị cáo chưa có vợ. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/7/2023, đến ngày 11/7/2023 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Cẩm Giàng.
Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa;
* Người làm chứng:
- Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1978
- Anh Phạm Văn Đ1, sinh năm 1990
- Chị Ngân Thị L, sinh năm 1994
Đều vắng mặt tại phiên tòa.
* Những người tham gia tố tụng khác:
Tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ - Công an huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương:
- Ông Phạm Hoàng Thanh – Thư ký - Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
- Ông Lê Thanh Tùng – Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương;
- Ông Nguyễn Việt Hưng – Cán bộ Công an huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Văn D và Lê Tuấn T là bạn bè xã hội với Phạm Văn Đ, sinh năm 1990, ở thôn Trung, xã Cẩm Đông, huyện Cẩm Giàng; Phạm Văn Đ1, sinh năm 1978, ở thôn Quảng Cư, xã Cẩm Đoài, huyện Cẩm Giàng và đều là những người sử dụng ma túy tổng hợp (ma túy đá). Trưa ngày 08/7/2023, D cùng với Đ đến thôn Thượng, xã Cẩm Đông, huyện Cẩm Giàng và vào phòng trọ của chị Ngân Thị L, sinh năm 1994, ở bản Sáng, xã Quang Chiểu, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa chơi (chị L là bạn gái của D). Do D thường xuyên đến phòng trọ của chị L chơi nên sáng ngày 08/7/2023 trước khi đi làm, chị L đã để chìa khóa phòng lại cho D. Trong khi ngồi chơi với Đ, D nảy sinh ý định mua ma túy đá mời T, Đ, Đ1 sử dụng (tại phòng trọ của chị L) để nhờ T, Đ, Đ1 nói với anh Mai Văn G, sinh năm 1982, ở thôn Thượng, xã Cẩm Đông, huyện Cẩm Giàng cho D khất nợ tiền anh G. Khoảng hơn 13 giờ cùng ngày, D mượn xe môtô nhãn hiệu Honda Winner BKS 34S1-209.13 của Đ đi cầm cố điện thoại được 1.000.000 đồng rồi đến đón T, bảo T đi giúp D khất nợ với anh G thì T đồng ý. Tiếp đó, D lắp sim số 0876084333 (của D) vào điện thoại di động nhãn hiệu Redmi của T (điện thoại của T lắp được 2 sim) rồi chở T đến khu vực vòng xuyến thuộc phường Tứ Minh, thành phố Hải Dương. Tại đây, D bảo T đứng đợi còn D đi vào trong ngõ mua của một người đàn ông tên Trọng (không rõ địa chỉ) 02 đoạn ống hút nhựa màu trắng, hàn kín hai đầu bên trong chứa ma túy đá với số tiền 400.000 đồng. D cất ma túy trong người rồi chở T về phòng trọ của chị L. Trên đường về, D bảo T gọi điện thoại cho anh Đ1 đến phòng trọ của chị L, T đồng ý sử dụng sim số 0876084333 của D gọi bảo Đ1 đến phòng trọ của chị L gặp D. Khoảng 13 giờ 40 phút, T và D về đến phòng trọ thấy Đ đang nằm xem điện thoại. D bảo T lấy dụng cụ sử dụng ma túy đá D cất giấu trong vỏ bao thuốc lá để ở gầm giường ra rửa và lắp thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá. Tiếp đó, D dùng bật lửa hơ mở đầu 01 đoạn ống hút chứa ma túy rồi đưa cho T để T đổ ma túy trong ống hút vào coóng, dùng bật lửa đốt mặt dưới coóng làm ma túy bay hơi thành khói để D, T, Đ cùng nhau sử dụng. Khi D, T, Đ vừa sử dụng hết ma túy trong coóng thì Đ1 đến. Lúc này, D đưa cho T đoạn ống hút chứa ma túy còn lại để T dùng bật lửa hơ mở đầu ống hút, đổ ma túy vào coóng và hơ đốt mặt dưới coóng làm ma túy bay hơi thành khói để D, T, Đ, Đ1 cùng nhau sử dụng. Trong khi sử dụng ma túy, D bảo Đ1 nói hộ với anh Giang cho D khất nợ thì Đ1 gọi điện thoại cho anh Giang nói hộ D. Đến 14 giờ 50 phút cùng ngày, khi các đối tượng đang sử dụng ma túy thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Giàng bắt quả tang. Do hoảng sợ, T đã tháo bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá cho vào vỏ bao thuốc lá, D cầm vỏ bao thuốc lá này vào trong nhà vệ sinh, lấy coóng đập vào trong bồn cầu và xả nước để tiêu hủy. Cơ quan điều tra thu giữ 01 vỏ bao thuốc lá 555 màu xanh, bên trong có 2 đoạn ống hút nhựa (loại ống xun), đường kính 0,5cm; 01 đoạn ống kim loại dài 4,5cm, đường kính 0,3cm; 01 đoạn ống liên kết kim loại, nhựa dài 2,8 cm, đường kính 0,7cm; 01 nắp chai nhựa màu đen đục 2 lỗ; 01 vỏ chai nhựa màu trắng nhãn hiệu 247 Wake-up tại nhà vệ sinh. 02 đoạn ống hút nhựa màu trắng, đường kính 0,5cm, 1 đầu hàn kín, 1 đầu mở có dấu vết của tác động nhiệt, bên trong ống có bám dính chất tinh thể màu trắng trong gạt tàn thuốc lá và 04 bật lửa ga dưới nền phòng trọ tại vị trí các đối tượng đang ngồi. Quản lý điện thoại di động nhãn hiệu Redmi lắp sim số 0363076852 và 0876084333 của Lê Tuấn T và xe môtô Honda Winner màu đen BKS 34S1-209.13 của Phạm Văn Đ.
Kết quả xét nghiệm mẫu nước tiểu bằng thanh thử Fastep tìm chất ma tuý đối với Lê Văn D, Lê Tuấn T, Phạm Văn Đ và Phạm Văn Đ1 dương tính với ma tuý Methamphetamine.
Kết luận giám định số 351/KL-KTHS ngày 12/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương, kết luận: Chất tinh thể màu trắng bám dính trong 2 đoạn ống nhựa màu trắng là ma túy loại Methamphetamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.
Quá trình điều tra xác định xe môtô Honda Winner màu đen BKS 34S1-209.13 là tài sản hợp pháp của Phạm Văn Đ, Đ không biết việc D mượn xe môtô để đi mua ma túy. Ngày 29/9/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại xe môtô cho Đ.
Về vật chứng vụ án: 01 vỏ bao thuốc lá 555 màu xanh, bên trong có 2 đoạn ống hút nhựa (loại ống xun), đường kính 0,5cm; 01 đoạn ống kim loại dài 4,5cm, đường kính 0,3cm; 01 đoạn ống liên kết kim loại, nhựa dài 2,8cm, đường kính 0,7cm; 01 nắp chai nhựa màu đen đục 2 lỗ; 01 vỏ chai nhựa màu trắng nhãn hiệu 247 Wake-up; 02 đoạn ống hút nhựa màu trắng, đường kính 0,5cm; 04 bật lửa ga; điện thoại di động nhãn hiệu Redmi lắp sim số 0363076852 và 0876084333 được quản lý tại kho vật chứng của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Giàng chờ xử lý.
Tại Cáo trạng số 96/CT-VKS ngày 26/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố các bị cáo Lê Văn D và Lê Tuấn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận thực hiện hành vi như đã nêu trên; đồng thời thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật được nêu trong nội dung bản Cáo trạng là hoàn toàn đúng.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quan điểm truy tố, phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả, điều kiện, nguyên nhân phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn D và Lê Tuấn T, phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Văn D.
Xử phạt: Bị cáo Lê văn D từ 7(Bẩy) năm 6 (Sáu) tháng đến 8 (Tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 08/7/2023.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Tuấn T.
Xử phạt: Bị cáo Lê Tuấn T từ 7 (Bẩy) năm 3 (Ba) tháng đến 7 (Bẩy) năm 6 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 08/7/2023.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ bao thuốc lá 555 màu xanh, bên trong có 2 đoạn ống hút nhựa (loại ống xun), đường kính 0,5cm; 01 đoạn ống kim loại dài 4,5cm, đường kính 0,3cm; 01 đoạn ống liên kết kim loại, nhựa dài 2,8cm, đường kính 0,7cm; 01 nắp chai nhựa màu đen đục 2 lỗ; 01 vỏ chai nhựa màu trắng nhãn hiệu 247 Wake-up; 02 đoạn ống hút nhựa màu trắng, đường kính 0,5cm; 04 bật lửa ga và sim điện thoại 0876.084.xxx;
+ Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước giá trị chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi lắp sim số 0363076852.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc Lê Văn D và Lê Tuấn T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện Cẩm Giàng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 13 giờ đến 14 giờ 50 phút ngày 08/7/2023, tại phòng trọ của chị Ngân Thị L, sinh năm 1994, tại thôn Thượng, xã Cẩm Đông, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Lợi dụng việc chị L là bạn gái của Lê Văn D không có nhà, D đã cùng với Lê Tuấn T cung cấp ma túy Methamphetamine, chuẩn bị dụng cụ và cùng với Phạm Văn Đ, sinh năm 1990, ở thôn Trung, xã Cẩm Đông, huyện Cẩm Giàng và Phạm Văn Đ1, sinh năm 1978, ở thôn Quảng Cư, xã Cẩm Đoài, huyện Cẩm Giàng sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý, kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, tiếp tay cho hành vi mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, nó không những trực tiếp xâm hại đến sức khỏe về tinh thần, thể chất và tài sản của người sử dụng, gây lo lắng, buồn phiền cho những người thân trong gia đình, mà còn là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt “đối với hai người trở lên” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về vai trò của các bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận bị cáo Lê Văn D là người khởi xướng, chuẩn bị ma túy nên giữ vai trò thứ nhất, Lê Tuấn T đồng phạm với vai trò là người thực hành.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo D đã từng bị xét xử nhiều lần nên xác định là người có nhân thân xấu. Như vậy, xác định cả 2 bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo khai báo thành khẩn hành vi phạm tội nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ được qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Lê Tuấn T có bố là thương binh, bản thân bị cáo tích cực ủng hộ phong trào phòng chống covid tại địa phương nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt chính: HĐXX xem xét đánh giá vị trí vai trò của từng bị cáo, cân nhắc tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của từng bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt tương xứng với hành vi của từng bị cáo.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có tài sản và đang bị tạm giam nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[7] Về vật chứng:
- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi lắp sim số 0363076852 các bị cáo đã sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu phát mại lấy giá trị sung quĩ Nhà nước theo qui định;
- Đối với 01 vỏ bao thuốc lá 555 màu xanh, bên trong có 2 đoạn ống hút nhựa (loại ống xun), đường kính 0,5cm; 01 đoạn ống kim loại dài 4,5cm, đường kính 0,3cm; 01 đoạn ống liên kết kim loại, nhựa dài 2,8cm, đường kính 0,7cm; 01 nắp chai nhựa màu đen đục 2 lỗ; 01 vỏ chai nhựa màu trắng nhãn hiệu 247 Wake-up; 02 đoạn ống hút nhựa màu trắng, đường kính 0,5cm; 04 bật lửa ga và 0876084333 là những là dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy, không có giá trị nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
[8] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[9] Về những vấn đề khác:
- Đối với người bán ma túy cho Lê Văn D theo D khai tên là Trọng, quá trình điều tra không xác định được cơ quan Cảnh sát điều tra có công văn trao đổi thông tin tội phạm đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Dương giải quyết theo thẩm quyền.
- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy gồm có Lê Văn D, Lê Tuấn T, Phạm Văn Đ và Phạm Văn Đ1. Ngày 29/9/2023, Công an huyện Cẩm Giàng đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp qui định của pháp luật;
- Quá trình Lê Văn D, Lê Tuấn T, Phạm Văn Đ và Phạm Văn Đ1 sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng trọ của chị Ngân Thị L nhưng Đ và Đ1 được D và T mời, không thực hiện hành vi chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy, không nấu ma túy nên xác định Đ và Đ1 là người được thụ hưởng, không đồng phạm với hành vi phạm tội của D và T;
- Đối với Phạm Văn Đ là người cho bị cáo Lê Văn D mượn xe môtô nhưng không biết việc D đã sử dụng xe đi mua ma túy nên không có căn cứ xử lý đối với Đ;
- Đối với chị Ngân Thị L là chủ phòng trọ, nơi các đối tượng sử dụng ma túy nhưng chị L đi làm không biết việc Lê Văn D tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng trọ của mình nên không có căn cứ xử lý chị L.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Văn D;
Căn cứ áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Tuấn T.
Căn cứ áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 qui định về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội đối với các bị cáo Dương và Thành.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn D và Lê Tuấn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
- Xử phạt Lê Văn D 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 08/7/2023.
- Xử phạt Lê Tuấn T 07 (Bẩy) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 08/7/2023.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu phát mại lấy giá trị sung quĩ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen, gắn sim số 0363076852;
- Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định số 351/KLGĐ-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương, còn nguyên niêm phong, bên trong có 02 đoạn ông hút nhựa màu trắng (loại ống hút nước) đều được hàn kín một đầu và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; 01 bao thuốc lá nhãn hiệu 555 màu xanh, bên trong có 2 đoạn ống hút nhựa (loại ống xun), đường kính 0,5cm; 01 đoạn dài 49cm, 01 đoạn dài 08cm; 01 đoạn kim loại dài 6,5cm, đường kính 0,4cm; 01 đoạn ống liên kết kim loại dài 4,5, đường kính 0,3cm; 01 nắp chai nhựa màu đen đục 2 lỗ, đường kính 0,6cm; 04 chiếc bật lửa ga: (02 màu đỏ, 01 màu xanh, 01 màu xanh chuối); 01 chiếc vỏ chai nhựa màu trắng, thân chai nhãn hiệu Wake-up và 01 sim số 0876084333 (Tình trạng và đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/11/2023 giữa Công an huyện Cẩm Giàng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương).
4. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo (D, T) phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Trương Thị Tố Uyên |
Bản án số 94/2023/HS-ST ngày 22/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 94/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Dương + đồng phạm
