|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 94/2024/HS-ST Ngày: 21/06/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Xuân Huy
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Văn Hải
2. Ông Long Văn Thanh
Thư ký phiên tòa: Ông Lục Đức Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Đàm Thế Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cao Bằng (cơ sở 2), Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 81/2024/HSST ngày 24 tháng 05 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 142/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đối với các bị cáo:
1. Bị cáo Hứa Minh T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 19/7/1996 tại huyện H, tỉnh Cao Bằng; ĐKHKTT: Pác Háo N, xã L, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12 phổ thông; Con ông: Hứa Minh C - sinh 1960; Con bà: Hứa Thị P - sinh 1962, đều có địa chỉ: Pác Háo N, xã L, huyện H, tỉnh Cao Bằng; A, chị, em ruột: Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ năm trong gia đình; Vợ, con: không có.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 28/6/2018 TAND huyện Hòa An áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/03/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên tòa.
2. Bị cáo Đàm Văn K; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 12/04/1992 tại huyện H, tỉnh Cao Bằng; ĐKHKTT: Pác Háo N, xã L, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12 phổ thông; Con ông: Đàm Văn T1 - sinh 1969, Con bà: Hoàng Thị N - sinh 1972, đều có địa chỉ tại: Pác Háo N, xã L, huyện H, tỉnh Cao Bằng; A, chị, em ruột: Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ, con: Không có.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 28/6/2018 TAND huyện Hòa An áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/03/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Hứa Minh C - sinh năm 1960;
Địa chỉ: P Háo N, xã L, huyện H, tỉnh Cao Bằng.
Vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người bào chữa:
1. Người bào chữa cho bị cáo Hứa Minh T:
Ông Bế Kim T2 - Trợ giúp viên pháp lý trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh C. Có mặt tại phiên tòa
2. Người bào chữa cho bị cáo Đàm Văn K:
Ông Triệu Bằng G - Trợ giúp viên pháp lý trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh C. Có mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 8h sáng ngày 06/03/2024, Đàm Văn K và Hứa Minh T bàn bạc cùng nhau góp tiền đi mua ma túy về sử dụng. Hứa Minh T đưa cho Đàm Văn K 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), Đàm Văn K cầm tiền rồi góp thêm 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng). Sau đó Hứa Minh T sử dụng xe mô tô không có biển kiểm soát của T để đưa K đi tìm mua ma túy. Hai bị cáo đi đến khu vực cổng bệnh viện đa khoa tỉnh C (thuộc tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) ngồi đợi thì thấy một người đàn ông có biểu hiện sử dụng ma túy. Lúc này K đi đến hỏi mua 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) với người đàn ông đó và được người này đồng ý. Người đàn ông đó cầm tiền rồi đi đâu đó khoảng 5 phút sau quay lại và đưa cho K 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa ma túy. K cầm lấy gói ma túy rồi T cùng K đi đến cửa hàng dược gần đó, T đi vào mua 02 (hai) bơm kim tiêm và 01 (lọ) nước novocaine. Sau đó cả hai đi tìm chỗ sử dụng ma túy. Khi đi đến khu vực tổ H, phường T, thành phố C thì cơ quan công an phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ bao gồm:
Thu giữ của Đàm Văn K: 01 (một) gói giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột, Đàm Văn K đang cầm trên tay; 01 (một) điện thoại di động màu đỏ đen, mặt trước có chữ V, số IMEI: 359430061276107.
Thu giữ của Hứa Minh T: 02 (hai) xi lanh kim tiêm và 01 (một) lọ nước NOVOCAINE; 01 (một) mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu đỏ đen, xe không biển kiểm soát, có số khung: RLHJA3656GY025454, số máy: JA36E-0494572.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành cân xác định khối lượng tang vật xác định được khối lượng chất bột màu trắng là: 0,11g (Không phẩy mười một gam) và Trưng cầu giám định theo quyết định trưng cầu giám định số 307 ngày 06/03/2024 đối với vật chứng của vụ án. Tại Kết luận giám định số 194/KL-KTHS ngày 13/03/2024 của phòng K1 công an tỉnh C kết luận: "Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H)".
Số ma túy bị phát hiện thu giữ các bị cáo khai nhận mua về nhằm mục đích cùng nhau sử dụng cho bản thân, ngoài ra không có mục đích nào khác. Số tiền bỏ ra để mua ma túy cả hai cùng nhau góp mỗi người 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng).
Hành vi của các bị cáo đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C lập hồ sơ đề nghị truy tố trước pháp luật về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại bản Cáo trạng số: 90/CT-VKSTP ngày 22/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố các bị cáo Hứa Minh T, Đàm Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của mình đúng như bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhất trí với khối lượng ma túy bị thu giữ và nội dung bản kết luận giám định số: 194/KL-KTHS ngày 13/03/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh C.
Bị cáo Hứa Minh T khai nhận: Khi cả hai bị cáo đi ra đến thành phố C thì Đàm Văn K rủ rê bị cáo cùng góp tiền để mua ma túy về sử dụng. Số tiền góp để
mua ma túy là do bị cáo lao động mà có, bị cáo góp tiền mua mua túy nhằm mục đích cùng bị cáo Đàm Văn K sử dụng cho bản thân, ngoài ra không có mục đích nào khác. Bị cáo K là người trực tiếp đi hỏi mua ma túy còn bị cáo là người đi mua bơm kim tiêm và nước cất. Chiếc xe cơ quan công an thu giữ là của bố bị cáo, bị cáo nói với bố là mượn xe đi làm, bố bị cáo không biết bị cáo sử dụng chiếc xe để đi mua ma túy. Hiện nay chiếc xe đã được trả lại cho bố bị cáo do vậy bị cáo không có ý kiến gì. Bố bị cáo là ông Hứa Minh C được nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang do vậy bị cáo Hứa Minh T đề nghị hội đồng xét xử xem xét.
Bị cáo Đàm Văn K khai nhận: Sáng ngày 06/03/2024 bị cáo cùng với Hứa Minh T đi từ huyện Q ra thành phố C, khi đến thành phố C thì bị cáo rủ bị cáo Hứa Minh T cùng nhau góp tiền để tìm mua ma túy về sử dụng và mỗi người góp 100.000 đồng, sau đó cả hai sử dụng xe máy của Hứa Minh T đi đến khu vực cổng bệnh viện đa khoa tỉnh C để tìm mua ma túy. Bị cáo là người trực tiếp đi mua ma túy còn Hứa Minh T là người đi mua bơm kim tiêm và nước cất. Bị cáo mua ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không có mục đích nào khác. Trong quá trình điều tra bị cáo có bị thu giữ ma túy và một chiếc điện thoại, do chiếc điện thoại đã cũ và thường xuyên chập chờn khi sử dụng do vậy bị cáo không yêu cầu Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo.
Tại phiên tòa các bị cáo bày tỏ thái độ ăn năn hối hận về hành vi vi phạm pháp luật của bản thân.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hứa Minh C vắng mặt tại phiên tòa, trong đơn xin xét xử vắng mặt ông Hứa Minh C vẫn giữ nguyên lời khai đã trình bày trước đây và xác nhận đã được Cơ quan cảnh sát điều tra trả lại chiếc xe máy, ông không có yêu cầu gì thêm. Do tuổi cao đi lại khó khăn nên ông đề nghị Hội đồng xét xử vắng mặt ông.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo do vậy đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng
tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Các bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở khu vực có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn do vậy đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài ra bố đẻ của bị cáo Hứa Minh T là ông Hứa Minh C được nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang do vậy đề nghị cho bị cáo Hứa Minh T được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Với những căn cứ như trên áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Hứa Minh T và Đàm Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt:
Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Hứa Minh T từ 13 (Mười ba) tháng tù đến 16 (Mười sáu) tháng tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Đàm Văn K từ 13 (Mười ba) tháng tù đến 16 (Mười sáu) tháng tù
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:
- Tịch thu, tiêu hủy:
01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ghi: "Số 194/KL-KTHS. Hoàn mẫu vụ Hứa Minh T, Đàm Văn K; Tàng trữ trái phép chất ma túy", mặt sau phong bì có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đóng dấu giáp lai của Phòng K1 - Công an tỉnh C.
02 (hai) xi lanh kim tiêm.
01 (một) lọ nước cất NOVOCAIN
01 (một) điện thoại di động màu đỏ đen, mặt trước có chữ V, số IMEI: 359430061276107, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Tại phiên tòa các bị cáo đề nghị và có đơn đề nghị được miễn án phí hình sự sơ thẩm do vậy đề nghị Hội đồng xét xử miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Hứa Minh T và Đàm Văn K.
Tại phần tranh luận, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Trợ giúp viên pháp lý Ông Bế Kim T2 trình bày luận cứ bào chữa cho bị cáo Hứa Minh T: Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo nhất trí với bản luận tội của Viện kiểm sát tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống tại khu vực có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn do nhận thức pháp luật của bị cáo còn nhiều hạn chế. Bản thân bị cáo cũng đã ăn năn hối cải, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo và được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 do vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát là 13 tháng tù. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại khu vực có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn do vậy đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo
Trợ giúp viên pháp lý ông Triệu Bằng G trình bày luận cứ bào chữa cho bị cáo Đàm Văn K: Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo nhất trí với bản luận tội của Viện kiểm sát tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh
bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống tại khu vực có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn do nhận thức pháp luật của bị cáo còn nhiều hạn chế. Bản thân bị cáo cũng đã ăn năn hối cải, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo và được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 do vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát. Và bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại khu vực có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn do vậy đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Khi được nói lời sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm quay trở về với gia đình và cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, lời
khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Do vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định được: Hồi 09 giờ 00 phút ngày 06/03/2024 tại khu vực tổ H, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Tổ công tác Công an phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng phát hiện và bắt quả tang các bị cáo Hứa Minh T và Đàm Văn K đang có hành vi tàng trữ trái phép 0.11g (Không phẩy mười một gam) chất ma túy (Heroine) nhằm mục đích cùng nhau sử dụng cho bản thân.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội và còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại nhiều mặt của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Các bị cáo rủ nhau cùng mua ma túy về sử dụng chung do vậy các bị cáo đều phải chịu trách nhiệm hình sự với khối lượng ma túy thu giữ được. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Về nhân thân: Các bị cáo là người người nghiện ma túy, có nhân thân xấu, đã bị Tòa án nhân dân huyện Hòa An xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy, hiểu được tác hại nhiều mặt của ma túy nhưng vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo hành về vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Các bị cáo là người
dân tộc thiểu số sinh sống ở khu vực có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn các bị cáo có trình độ văn hóa thấp do vậy kiểm sát viên đề nghị cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ cần được chấp nhận. Trong quá trình chuẩn bị xét xử ông Hứa Minh C là bố đẻ của bị cáo Hứa Minh T có giao nộp 01 huân chương chiến sĩ vẻ vang do vậy bị cáo Hứa Minh T được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4]. Về hình phạt chính: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Hứa Minh T từ 13 tháng tù đến 16 tháng tù; đối với bị cáo Đàm Văn K từ 13 tháng tù đến 16 tháng tù; Hội đồng xét xử xét thấy mức đề nghị hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo là hoàn toàn phù hợp bởi bị cáo là đối tượng nghiện ma túy (heroine), không thể tự cải tạo, cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ để cải tạo giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung trong xã hội.
Hội đồng xét xử xét thấy trong vụ án các bị cáo là đồng phạm thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Khối lượng ma túy không lớn tuy nhiên các bị cáo đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện nhưng không lấy đó làm bài học mà lại còn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy do vậy hình phạt trên mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp với hành vi của bị cáo và quy định của pháp luật. Xét hành vi, vai trò của các bị cáo có thể thấy bị cáo Đàm Văn K là người rủ rê lôi kéo bị cáo Hứa Minh T góp tiền cùng mua ma túy về sử dụng đồng thời bị cáo Hứa Minh T có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn bị cáo Đàm Văn K do vậy cần áp dụng hình phạt đối với bị cáo Đàm Văn K cao hơn bị cáo Hứa Minh T.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 còn quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền. Xét thấy các bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6]. Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ghi: "01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ghi: "Số 194/KL-KTHS. Hoàn mẫu vụ Hứa Minh T, Đàm Văn K; Tàng trữ trái phép chất ma túy", mặt sau phong bì có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đóng dấu giáp lai của Phòng K1 - Công an tỉnh C. Xét thấy đây là vật chứng nhà nước cấm lưu hành vì vậy cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 02 (hai) xi lanh kim tiêm, 01 (một) lọ nước cất NOVOCAIN xét thấy các bị cáo chuẩn bị nhằm sử dụng vào hành vi vi phạm pháp luật do vậy cũng cần phải tịch thu tiêu hủy.
- Đối với chiếc điện thoại di động màu đỏ đen, mặt trước có chữ V, số IMEI: 359430061276107, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Xét thấy đây là tài sản hợp pháp của bị cáo Đàm Văn K, tại phiên tòa bị cáo xác nhận chiếc điện thoại trên của bị cáo là điện thoại cũ đã qua sử dụng, thường xuyên bị hỏng và bị cáo không đề nghị hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo do vậy cần tịch thu tiêu hủy.
[7]. Về các vấn đề khác:
Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, Đàm Văn K khai được mua với một người đàn ông không rõ tên và địa chỉ, quá trình trao đổi mua bán không ai biết, chứng kiến nên Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý trong vụ án khác khi có căn cứ.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu đỏ đen, xe không biển kiểm soát, có số khung: RLHJA3656GY025454, số máy: JA36E-0494572 trong quá trình điều tra xác định được là tài sản hợp pháp của ông Đàm Văn C1,
Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Đàm Văn C1 và ông Đàm Văn C1 cũng không có yêu cầu gì khác do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[8]. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống, cư trú tại địa phương có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa các bị cáo đề nghị và có đơn xin miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Đề nghị của các bị cáo có cơ sở để chấp nhận.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Hứa Minh T, Đàm Văn K phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Hứa Minh T 14 tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 06/03/2024.
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Đàm Văn K 15 tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 06/03/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử:
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư niêm phong, mặt trước ghi: "Số 194/KL-KTHS. Hoàn mẫu vụ Hứa Minh T, Đàm Văn K; Tàng trữ trái phép chất ma túy", mặt sau phong bì có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đóng 04 dấu tròn của Phòng K1 - Công an tỉnh C.
- Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bơm kim tiêm, 01 (một) lọ Novocain
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) điện thoại di động (loại bàn phím) màu đỏ đen, có chữ VIETTEL, số IMEI: 359430061276107, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 116 ngày 27/5/2024 .
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Hứa Minh T và Đàm Văn K.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lý Xuân Huy |
Bản án số 94/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 94/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trí kham cùng nhau mua ma túy về sử dụng
