|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 94/2025/DS-ST Ngày: 27 – 5 – 2025 V/v tranh chấp dân sự về hợp đồng thuê nhà trọ, vay tài sản, thuê công thợ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Ngọc Minh;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Quốc Tiến;
- Bà Nguyễn Thị Phượng;
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Trong các ngày 20 và 27 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 654/2024/TLST- DS ngày 04 tháng 11 năm 2024 về việc: “Về việc tranh chấp hợp đồng dân sự về thuê nhà trọ, vay tài sản, thuê công thợ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 188/2025/QĐXXST-DS ngày 10/4/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 199/2025/QÐST – DS ngày 09/5/2025; giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Chí K, sinh năm 1978.
Địa chỉ: Tổ C, ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Bị đơn: Ông Lê Quang T, sinh năm 1971.
HKTT: Tổ 47, khóm E, phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Chỗ ở hiện nay: ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Huỳnh Thị Kim T1, sinh năm 1975. Địa chỉ: Tổ C, ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
(Ông K có mặt, ông T vắng mặt lúc tuyên án, bà T1 có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa sơ thẩm anh Nguyễn Chí K là nguyên đơn trình bày:
Ông Lê Quang T có thuê nhà trọ của ông K để sinh sống, hiện còn nợ lại 10 tháng tiền nhà, cùng với tiền điện, nước, cụ thể:
- Tiền nhà trọ: 10 tháng x 600.000 đồng/tháng = 6.000.000 đồng.
- Tiền điện trong thời gian 10 tháng đồng hồ số 1: 732 kg x 3.500 đồng = 2.562.000 đồng.
- Tiền nước trong thời gian 10 tháng đồng hồ số 1: 11 khối nước x 10.000 đồng = 110.000 đồng.
- Tiền điện trong thời gian 10 tháng đồng hồ số 2: 486 kg x 3.500 đồng = 1.701.000 đồng.
- Tiền nước trong thời gian 10 tháng đồng hồ số 2: 14 khối nước x 10.000 đồng = 140.000 đồng.
Ông Lê Quang T có hỏi mượn tiền của ông K tổng cộng 03 lần, số tiền là 8.000.000 đồng. Do quen biết, ông T đang thuê nhà trọ của ông K nên không viết biên nhận.
Như vậy, ông Lê Quang T nợ ông K số tiền mượn là 8.000.000 đồng và nợ tiền thuê nhà trọ, điện, nước trong thời gian 10 tháng là 10.513.000 đồng.
Sau nhiều lần nhắc nhở, yêu cầu trả tiền nhưng ông T không trả. Ông K quá bức xúc nên có làm đơn tường trình gửi đến UBND xã T. Buổi hòa giải vào ngày 05/7/2024, ông T có đến giải quyết. Ông T không đồng ý trả tiền cho ông K theo yêu cầu của ông K nên cán bộ hòa giải đã có lập biên bản và giao cho ông K giữ.
Nay ông K yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Lê Quang T phải có trách nhiệm trả cho ông K số tiền mượn là 8.000.000 đồng và tiền thuê nhà trọ, điện, nước là 10.513.000 đồng. Tổng cộng 18.513.000 đồng.
Tại phiên tòa, ông K có thay đổi yêu cầu khởi kiện. Đối với số tiền vay, ông K chỉ khởi kiện yêu cầu ông T trả cho ông 6.000.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa bị đơn ông Lê Quang T trình bày:
Trước đây, ngày 10/01/2022, ông có thoả thuận nhận chuyển nhượng 02 nền nhà, mỗi nền có diện tích ngang 06m, dài 18m của bà Lê Thị B và ông Nguyễn Chí K. Hai bên thoả thuận bên ông K làm thủ tục tách quyền sử dụng đất đối với 02 nền nhà để sang tên cho ông T và ông Lê Quang V mỗi người đứng tên 01 nền. Tuy nhiên, thời gian làm thủ tục giấy tờ quá lâu. Đến cuối năm 2022, ông Lê Quang V khởi kiện yêu cầu huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông và gia đình ông K. Do đó, các ông bà không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của ông V nên phát sinh tranh chấp. Lúc này, do ông không có chỗ ở nên gia đình ông K thoả thuận với ông trong thời gian chờ làm giấy tờ và đợi toà án giải quyết tranh chấp thì ông được ở tại phòng trọ của ông K mà không phải trả tiền thuê trọ.
Đến khi toà án giải quyết tranh chấp, tại phiên toà gia đình ông K yêu cầu huỷ hợp đồng chuyển nhượng và đề nghị trả lại số tiền cọc và tiền chuyển nhượng đất lại cho ông. Vì nghĩ chỗ thân thiết, ông K cũng đã có thiện chí thoả thuận cho ông có chỗ ở trong thời gian chờ toà án giải quyết tranh chấp với ông V. Do đó, ông cũng thống nhất yêu cầu của ông K huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/01/2022. Ông không yêu cầu phạt cọc hay bồi thường thiệt hại trong vụ tranh chấp. Nay, ông K khởi kiện yêu cầu ông trả tiền thuê trọ, tiền điện nước là 10.513.000 đồng, ông không đồng ý. Thực tế, ông có mượn của ông K số tiền 6.000.000 đồng. Lý do ông không đồng ý trả tiền cho ông K là vì ông K còn nợ ông tiền công thợ và tiền mua dụng cụ. Tổng cộng số tiền 5.725.000 đồng (Năm triệu bảy trăm hai mươi lăm ngàn đồng). Cụ thể:
- Số tiền 4.050.000 đồng là tiền công thợ mộc làm quán cà phê cho ông K trong 09 ngày, mỗi ngày là 450.000 đồng. (09 ngày x 450.000 đồng = 4.050.000 đồng)
- Số tiền 1.350.000 đồng là tiền công thợ mộc làm nhà trọ cho ông K trong 03 ngày, mỗi ngày là 450.000 đồng. (03 ngày x 450.000 đồng = 1.350.000 đồng).
- Số tiền 175.000 đồng là tiền ông mua dùm ông K 05 thùng bên.
- Số tiền 150.000 đồng là tiền mua dùm ông K 01 tấm mũ để chứa hồ sau khi trộn.
(4.050.000 đồng + 1.350.000 đồng + 175.000 đồng + 150.000 đồng = 5.725.000 đồng).
Vì ông K còn nợ tiền công thợ và tiền mua dụng cụ của ông là 5.725.000 đồng. Sau khi trừ đi số tiền ông mượn ông K 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) thì ông chỉ đồng ý trả cho ông K số tiền 275.000 đồng (Hai trăm bảy mươi lăm ngàn đồng).
Trong quá trình giải quyết người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Kim T1 trình bày:
Bà T1 là vợ ông K, bà T1 là người trực tiếp đưa tiền cho ông T mượn, 03 lần gồm 01 lần 2.000.000 đồng, 01 lần 5.000.000 đồng và 01 lần 01 triệu. Tổng 8.000.000 đồng. Do ông K điện thoại kêu bà T1 đưa tiền cho ông T mượn nên bà T1 không nhớ ngày, không làm biên nhận. Nay bà T1 thống nhất ý kiến của ông K về việc yêu cầu ông T trả lại 8.000.000 đồng tiền vay và tiền thuê trọ, điện, nước là 10.513.000 đồng. Tổng cộng 18.513.000 đồng.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã cung cấp các tài liệu, chứng cứ như sau:
- CCCD Nguyễn Chí K, Lê Quang T, Huỳnh Thị Kim T1 (photo);
- 01 Biên bản hòa giải ngày 05/7/2024 (photo).
- Văn bản bổ sung ngày 17/01/2025.
- Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh (photo)
- 01 Biên bản hòa giải ngày 05/7/2024 (bản chính).
- 01 văn bản ý kiến đề ngày 25/11/2024 (bản chính)
Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ các đương sự thống nhất. Không ai cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ và không yêu cầu thu thập thêm tài liệu, chứng cứ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại số tiền vay là 8.000.000 đồng, tiền thuê nhà trọ và tiền điện nước trong quá trình ở trọ số tiền 10.513.000. Bị đơn có yêu cầu phản tố yêu cầu tiền công thợ số tiền 5.725.000 đồng. Ngoài ra, các đương sự không ai có yêu cầu nào khác nên xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng dân sự về thuê nhà trọ, vay tài sản, thuê công thợ” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Do địa chỉ của bị đơn ở huyện C nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh theo quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim T1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà T1.
Về nội dung:
[4] Nguyên đơn ông K yêu cầu bị đơn ông T trả lại số tiền vay là 8.000.000 đồng, tiền thuê nhà trọ và tiền điện nước trong quá trình ở trọ số tiền 10.513.000, Hội đồng xét xử xét thấy:
[4.1] Đối với yêu cầu bị đơn trả số tiền vay là 8.000.000 đồng, bị đơn chỉ thừa nhận vay 6.000.000 đồng. Cả ông K, bà T1 và ông T đều thừa nhận là vay nhiều lần, không nhớ thời gian vay và cũng không làm biên nhận. Tại phiên tòa ông K chỉ yêu cầu ông T trả 6.000.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy việc thay đổi yêu cầu của ông K là có căn cứ nên chấp nhận yêu cầu yêu ông K. Buộc ông T phải có trách nhiệm trả cho ông K số tiền vay 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).
[4.2] Đối với việc ông K yêu cầu ông T phải trả tiền thuê trọ, tiền điện nước trong quá trình thuê, ông T không đồng ý.
Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, ông T thừa nhận có ở trọ tại nhà trọ của ông Nguyễn Chí K, thời gian là 10 tháng, có sử dụng 732 ký điện và 10 khối nước tại đồng hồ 1 và 486 ký điện và 14 khối nước của đồng hồ 2 nhưng không đồng ý trả cho ông K vì cho rằng ông K và ông T có thỏa thuận cho ông T ở nhờ. Tuy nhiên, ông T không chứng minh được việc cho ở nhờ, bên cạnh đó ông K và bà T1 không thừa nhận. Do đó, ông T phải có trách nhiệm trả tiền thuê phòng trọ trong thời gian ở trọ là 10 tháng, giá trọ mỗi tháng là 600.000 đồng thành tiền 6.000.000 đồng. Tiền điện (732 + 486) x 3.500 đồng = 4.263.000 đồng, tiền nước (11 +14) x 10.000 đồng = 250.000 đồng. Tổng số tiền là 10.513.000 đồng.
[5] Phía bị đơn ông Lê Quang T có yêu cầu phản tố yêu cầu ông K trả lại ông tổng cộng số tiền 5.725.000 đồng (Năm triệu bảy trăm hai mươi lăm ngàn đồng). Đối với yêu cầu này, ông T không đưa ra được chứng cứ để chứng minh, bên cạnh đó ông K không thừa nhận nên không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của ông T.
[6] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
[7] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí - lệ phí Tòa án thì: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên ông Lê Quang T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, cụ thể 16.513.000 x 5% = 825.650 đồng án phí theo quy định của pháp luật.
Do yêu cầu phản tố không được chấp nhận nên ông Lê Quang T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 463, Điều 468, Điều 472, Điều 481, Điều 513 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 26, điểm a, c khoản 1 Điều 39; Điều 147, khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Chí K về việc yêu cầu ông Lê Quang T trả tiền vay, tiền nhà trọ, tiền điện, nước trong thời gian thuê trọ.
Buộc ông Lê Quang T có trách nhiệm trả cho anh Nguyễn Chí K số tiền vay là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng), thuê nhà trọ số tiền 6.000.000 đồng, tiền điện 4.263.000 đồng, tiền nước 250.000 đồng. Tổng số tiền 16.513.000 đồng (Mười sáu triệu năm trăm mười ba nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Lê Quang T về việc buộc ông Nguyễn Chí K trả tiền thuê công thợ là 5.725.000 đồng (Năm triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
3. Về án phí:
Ông Lê Quang T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 1.125.650 đồng (Một triệu một trăm hai mươi lăm nghìn sáu trăm năm mươi đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001790 ngày 10 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh. Như vậy ông T phải nộp thêm số tiền 825.650 đồng (T2 trăm hai mươi lăm nghìn sáu trăm năm mươi đồng).
Ông Nguyễn Chí K được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 463.000 đồng (Bốn trăm sáu mươi ba nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009365 ngày 01/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh.
Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Ngọc Minh |
6
Bản án số 94/2025/DS-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng dân sự về thuê nhà trọ, vay tài sản, thuê công thợ
- Số bản án: 94/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự về thuê nhà trọ, vay tài sản, thuê công thợ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: KHANH - TUẤN