Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 94/2025/HS-ST

Ngày 28-02-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thành Thị Thu Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phan Anh Dũng
  2. Bà Đậu Thị Mỹ Long

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Thìn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 70/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Nguyễn Văn T.

Tên gọi khác: Không - Giới tính: Nam.

Sinh ngày 05 tháng 11 năm 1997, tại Đồng Nai.

Nơi cư trú: khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Công giáo.

Nghề nghiệp: Không - Trình độ học vấn: Lớp 6/12.

Họ tên cha: Nguyễn Ngọc T1 - Sinh năm 1969 (Còn sống).

Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Thanh T2 - Sinh năm 1973 (Còn sống).

Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất và chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ từ ngày 08/8/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an thành phố B.

2/ Họ và tên: Huỳnh Ngọc H.

Tên gọi khác: Garu H1 - Giới tính: Nam.

Sinh ngày 15 tháng 4 năm 1993, tại Đồng Nai.

Nơi cư trú: F, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Công giáo.

Nghề nghiệp: Không - Trình độ học vấn: Lớp 12/12.

Họ tên cha: Huỳnh Ngọc T3 - Sinh năm 1971 (Còn sống).

Họ tên mẹ: Nguyễn Thị B - Sinh năm 1974 (Còn sống).

Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất và chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ từ ngày 07/8/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an thành phố B.

3/ Họ và tên: Trần Thanh T4.

Tên gọi khác: K - Giới tính: Nam.

Sinh ngày 03 tháng 9 năm 1997, tại Đồng Nai.

Nơi cư trú: 98/4, tổ G, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Công giáo.

Nghề nghiệp: Không - Trình độ học vấn: Lớp 12/12.

Họ tên cha: Trần Văn T5 - Sinh năm 1975 (Còn sống).

Họ tên mẹ: Phạm Thị T6 - Sinh năm 1977 (Còn sống).

Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Bị cáo chung sống với chị Phan Thị Minh T7 – sinh năm 2005 và có 01 con sinh năm 2023.

Tiền án: Ngày 17/5/2021, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 (sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 05/01/2022 nhưng tính đến nay, bị cáo chưa chấp hành đóng nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Tiền sự: Không.

Bị tạm giữ từ ngày 08/8/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an thành phố B.

(Các bị cáo có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính của vụ án:

Huỳnh Ngọc H, Nguyễn Văn T, Trần Thanh T4 là bạn quen biết nhau và đều là những người sử dụng trái phép chất ma túy. H được bà Hồ Kim X - sinh năm 1949 (bà nội của H) cho ở và giao quản lý nhà số F, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Ngày 30/7/2024, T đến khu vực G “Ngọc Đồng”, thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai mua 02 (hai) gói ma túy tổng hợp (hàng đá) của nam thanh niên tên C (Không rõ lai lịch, địa chỉ), với giá 200.000đ/gói rồi mang về cất giấu để sử dụng.

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 04/6/2024, T mang 01 (một) gói ma túy tổng hợp (hàng đá) đến nhà H số 60D/5 (Địa chỉ nêu trên), T rủ H sử dụng ma túy, H đồng ý. T lấy gói ma túy mang theo bỏ vào nỏ thủy tinh gắn ở bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá của H rồi T và H cùng nhau sử dụng ma túy bằng cách dùng bật lửa ga đốt nóng nỏ thủy tinh để ma túy hóa hơi rồi dùng miệng hút hơi ma túy vào cơ thể. Trong khi T và H đang sử dụng ma túy thì T4 đến nhà H chơi. Thấy T4 đến, T cất giấu nỏ thủy tinh đang có ma túy. T4 hỏi T có biết chỗ bán ma tuý (hàng đá) thì mua về cùng nhau sử dụng. Lúc này, T nói cho T4 biết đã có ma tuý (hàng đá) và yêu cầu T4 góp tiền để sử dụng ma túy. T4 đồng ý góp 150.000₫ (Một trăm năn mươi nghìn đồng) nhưng mới đưa cho T 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng), còn 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) T4 hứa sẽ trả cho T sau. Sau khi nhận tiền của T4 thì T lấy nỏ thủy tinh chứa ma túy ra cho T4 cùng sử dụng với T và H. Đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, T đi về, H và T4 tiếp tục sử dụng ma túy thêm một lúc nữa rồi nghỉ. Trong nỏ thủy tinh vẫn còn ma túy thì H cất giấu lại tại nhà H.

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 06/8/2024, T4 đến nhà của H thấy trong nỏ của bộ D sử dụng ma túy vẫn còn ít ma túy nêu trên nên T4 cùng H lấy ra tiếp tục sử dụng. Khi đang sử dụng ma túy thì bật lửa hết ga nên T4 đưa cho H 30.000₫ (Ba mươi nghìn đồng) để H đi mua thuốc lá và bật lửa ga về tiếp tục sử dụng ma túy.

Khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, T mang theo 01 (một) gói ma túy đá, 01 (một) nỏ thủy tinh và 01 (một) bật lửa ga khò đến nhà H thấy H và T4 đang sử dụng ma túy thì T cùng vào sử dụng với H và T4. Sau khi sử dụng hết số ma túy có trong nỏ, T làm vỡ nỏ thuỷ tinh. Lúc này, T nói T4 có tiền thì chuyển vào tài khoản momo của T để T mua ma túy đá về sử dụng, T4 đồng ý. Sau đó, T4 đến tiệm rửa xe “Anh Dũng”, địa chỉ: A, khu phố D, phường T, thành phố B (do chị Trần Phương K1 – sinh năm 1989, làm chủ) nhờ chị K1 nạp tiền vào tài khoản của T. Vào lúc 16 giờ 44 phút cùng ngày, chị K1 đã nạp 340.000₫ (Ba trăm bốn mươi nghìn đồng) vào tài khoản của T, T4 trả công cho chị K1 10.000đ. T4 thoả thuận với T, số tiền chuyển khoản có 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) để T mua ma túy cho cả nhóm sử dụng, 140.000đ (Một trăm bốn mươi nghìn đồng) để T4 chơi game. Khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi nhận được tiền do T4 vào tài khoản thì T nói đi mua ma túy nhưng thực tế thì T lấy xe bỏ đi lòng vòng một lúc rồi quay lại nhà H. Lúc này, có Ú cũng là người sử dụng trái phép chất ma túy (là bạn của H, không rõ lai lịch, địa chỉ) đến nhà H chơi. T đưa nỏ thủy tinh của T mang theo cho T4 làm vệ sinh rồi T lấy gói ma túy đá đem theo bỏ vào nỏ rồi sử dụng cùng H, T4 và Ú. Một lúc sau, Ú bỏ về, còn T, H và T4 tiếp tục sử dụng ma túy với nhau.

Khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, lực lượng phòng chống tội phạm và Công an phường T đến nhà H phát hiện bắt quả tang H đang sử dụng ma túy đá, T4 lẻn ra ngoài và bỏ trốn về nhà. T và H khai gian dối ma túy có sẵn trong nỏ và không rõ người cung cấp ma túy nên Công an phường T tiến hành bắt người phạm tội quả tang đối với H.

Đến khoảng 07 giờ 00 phút ngày 07/8/2024, Công an phường T đưa T4 về trụ sở Công an phường T làm việc. Qua làm việc xác định T, T4 tham gia tổ chức sử dụng trái phép ma tuý với H nên Công an phường T lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B theo thẩm quyền.

Đến ngày 08/8/2024, T và T4 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B bắt giữ.

Quá trình điều tra, các bị can Huỳnh Ngọc H, Nguyễn Văn T và Trần Thanh T4, khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng vụ án:

  • - 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm: 01 (một) chai nhựa (loại chai nước giải khát hiệu 7Up); 01 (một) đoạn ống hút nước giải khát bằng nhựa; 01 (một) nỏ thuỷ tinh, phần đầu nỏ đã bị vỡ bên trong còn bám dính chất màu trắng (Niêm phong nỏ thuỷ tinh gửi giám định);
  • - 02 (Hai) bật lửa ga (01 bật lửa loại bình thường và 01 bật lửa loại khỏ) dùng để sử dụng ma túy;
  • - 01 (Một) điện thoại di động hiệu Realme, màu xanh, số IMEI 865071049862837 của Nguyễn Văn T sử dụng nhận tiền của Trần Thanh T4 để mua ma túy.

Tại Kết luận giám định số 1580/KL-KTHS ngày 15/8/2024, Giám định viên Phòng K2 Công an tỉnh Đ, đã kết luận: Mẫu chất màu trắng bám dính trong nỏ thuỷ tinh được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại: Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng. (Bút lục số: 35)

Kết quả test thử nước tiểu ngày 06/8/2024 và ngày 07/8/2024, của Huỳnh Ngọc H, Nguyễn Văn T, Trần Thanh T4 đều dương tính với ma túy tổng hợp, loại Methamphetamine.

2. Truy tố:

Tại Cáo trạng số: 85/CT-VKSBH-HS ngày 16/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T, Huỳnh Ngọc H và Trần Thanh T4 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm a, b, khoản 2, Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị;

Áp dụng điểm a, b khoản 2, Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Văn T từ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) năm tù.

Bị cáo Huỳnh Ngọc H từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.

Áp dụng điểm a, b khoản 2, Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h, khoản 1 Điều 52, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt:

Bị cáo Trần Thanh T4 từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.

Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo khác đã biết hành vi của mình là sai, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:

- Những chứng cứ xác định có tội: Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị can, biên bản ghi lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào ngày 04/8/2024 và ngày 06/8/2024, tại nhà số F, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do Huỳnh Ngọc H ở và trực tiếp quản lý, H cùng với Nguyễn Văn T và Trần Thanh T4 đã 02 (hai) lần thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với nhau thì bị Công an phường T phát hiện bắt quả tang.

- Về tội danh: Từ căn cứ trên, xác định các bị cáo Nguyễn Văn T, Huỳnh Ngọc H và Trần Thanh T4 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, bản cáo trạng số 85/CT-VKSBH-HS ngày 16/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân làm gia tăng những tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự; gây tác hại cho sức khỏe và gây ảnh nghiêm trọng đến trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo là thanh niên đã trưởng thành, có đủ nhận thức và biết ma túy là chất gây nghiện có tác hại rất lớn cho người sử dụng và đối với xã hội. Các bị cáo cũng nhận thức được hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng đã bất chấp và cố tình vi phạm. Các bị cáo tập trung cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy hai lần nên đã phạm vào tình tiết tăng nặng định khung trách nhiệm hình sự “phạm tội hai lần trở lên” và “đối với hai người trở lên” quy định tại điểm a, b, khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Nên cần phải có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và có tác dụng răn đe, đấu tranh phòng ngừa chung.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Thanh T4 tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Còn bị cáo Nguyễn Văn T và Huỳnh Ngọc H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo Nguyễn Văn T và Huỳnh Ngọc H chưa có tiền án, tiền sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Vai trò của từng bị cáo trong vụ án, nhận thấy: Qua các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xác định giữa các bị cáo là đồng phạm và có vai trò khác nhau trong vụ án. Bị cáo T là người cung cấp ma túy và dụng cụ để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo H là người cung cấp địa điểm và dụng cụ để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo T4 là người góp tiền cho T để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó bị cáo T phải chịu mức án cao nhất, tiếp đến là bị cáo T4 và bị cáo Hoàng C1 mức án thấp hơn.

Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, vai trò, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra cũng như việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo để đảm bảo sự nghiêm minh của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung. Đồng thời cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

[3] Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm: 01 (một) chai nhựa (loại chai nước giải khát hiệu 7Up); 01 (một) đoạn ống hút nước giải khát bằng nhựa; 01 (một) nỏ thuỷ tinh, phần đầu nỏ đã bị vỡ bên trong có bám dính ma tuý (Nỏ thuỷ tinh được niêm phong trong gói số 1580/KL-KTHS ngày 15/8/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ) và 02 (Hai) bật lửa ga (01 bật lửa loại bình thường và 01 bật lửa loại khỏ), là dụng cụ sử dụng vào việc phạm tội;
  • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động hiệu Realme, màu xanh, số IMEI 865071049862837 của Nguyễn Văn T sử dụng nhận tiền của Trần Thanh T4 để mua ma túy.

[4] Về các nội dung khác có liên quan đến vụ án:

Đối với nam thanh niên tên C (Không rõ lai lịch, địa chỉ) đã bán ma túy cho bị cáo T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

Đối với nam thanh niên tên Ú (Không rõ lai lịch, địa chỉ) sử dụng ma túy cùng với với các bị cáo vào ngày 06/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

[5] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[6] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa:

Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh nêu trên và đề nghị mức hình phạt phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T, Huỳnh Ngọc H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 08 (tám) năm 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 8 năm 2024.

- Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc H 08 (tám) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07 tháng 8 năm 2024.

Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):

Tuyên bố bị cáo Trần Thanh T4 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

- Xử phạt bị cáo Trần Thanh T4 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 8 năm 2024.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm: 01 (một) chai nhựa (loại chai nước giải khát hiệu 7Up); 01 (một) đoạn ống hút nước giải khát bằng nhựa; 01 (một) nỏ thuỷ tinh, phần đầu nỏ đã bị vỡ bên trong có bám dính ma tuý (Nỏ thuỷ tinh được niêm phong trong gói số 1580/KL-KTHS ngày 15/8/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ) và 02 (Hai) bật lửa ga (01 bật lửa loại bình thường và 01 bật lửa loại khò), là dụng cụ sử dụng vào việc phạm tội;
  • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động hiệu Realme, màu xanh, số IMEI 865071049862837 của Nguyễn Văn T sử dụng nhận tiền của Trần Thanh T4 để mua ma túy.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17 tháng 01 năm 2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Các bị cáo được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS thành phố Biên Hòa;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự TP.Biên Hòa
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thành Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 94/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 94/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo phạm tội tổ chức sử dụng ma túy theo K2Đ255
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger