TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 94/2024/HS-ST Ngày 10-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Thắng
Các Hội thẩm nhân dân:
Nguyễn Văn Quyết
Nguyễn Thị Tâm
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Viết Hoàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Đào Duy Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 96/2024/HSST ngày 18 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn V, sinh ngày 08 tháng 3 năm 1982 tại Nam Định. Nơi cư trú: Xóm E, xã B, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V1 và bà Đỗ Thị T; có vợ là Vũ Thị T1; có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20-6-2024 đến ngày 28-6-2024 chuyển tạm giam, ngày 26-7-2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo Lĩnh đến nay; có mặt.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1958 (đã chết)
- Những người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Ông Phạm Xuân T2, sinh năm 1946, là chồng của bị hại; nơi cư trú: Thôn B, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng;
- Anh Phạm Công Đ, sinh năm 1994, là con đẻ của bị hại; nơi cư trú: Thôn B, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng;
Người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Phạm Xuân T2; có mặt.
- Người làm chứng:
- Anh Vũ Văn T3, vắng mặt;
- Anh Quách Quang T4, vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 18-6-2024, Nguyễn Văn V (có giấy phép lái xe hạng A1 do Sở Giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 12-6-2014, có giá trị không thời hạn) một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18G1-044.80 đi từ nhà ở xóm E, xã B, huyện G, tỉnh Nam Định đến làm việc tại thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Đến khoảng 08 giờ 10 phút cùng ngày, V đi đến Km50+700 Quốc lộ A thuộc địa phận xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng thì V phát hiện phía trước cùng chiều cách khoảng 05-07m có bà Nguyễn Thị N đang đi xe đạp chuyển hướng từ phải sang trái để đi vào điểm mở lối quay đầu. Vương đạp phanh để giảm tốc độ xe, đánh lái xe sang bên trái để tránh nhưng do không làm chủ tốc độ nên xe mô tô do V điều khiển đã đâm vào xe đạp của bà N làm bà N và phương tiện đổ ngã trên làn đường cơ giới, sau đó V điều khiển xe bỏ chạy khỏi hiện trường. Bà N được người dân đưa đi cấp cứu điều trị tại bệnh viện đến 12 giờ 25 phút ngày 19-6-2024, bà N chết.
Sau đó, đến 22 giờ 00 phút ngày 19-6-2024, Nguyễn Văn V đến Công an huyện V đầu thú và giao nộp: 01 chứng nhận đăng ký xe, 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Văn V, 01 quần dài dạng quần vải màu đen, 01 áo sơ mi dài tay, 01 mũ bảo hiểm, 01 đôi giày thể thao, 01 xe mô tô biển kiểm soát 18G1-044.80.
Kết quả khám nghiệm và xác định hiện trường thể hiện: Hiện trường xảy ra tại Km50+700 Quốc lộ A thuộc địa phận xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng (thuộc chiều từ Thái Bình đi Hải Phòng). Chiều đường xảy ra tai nạn có ba làn đường, độ rộng các làn đường lần lượt từ dải phân cách cứng đến lề đường là 3,325m, 3,325m và 1,8m. Chọn mép đường bên phải theo chiều đi từ Thái Bình về Hải Phòng và biển báo số 102 (đường một chiều) đầu tiên theo hướng từ Thái Bình đi Hải Phòng làm mốc. Vị trí số 1: điểm va chạm giữa xe mô tô và xe đạp cách mép đường bên phải 4,7m, cách vị trí xe mô tô (vị trí số 3) bỏ đi 05m, cách tâm trục bánh sau xe đạp (vị trí số 2) là 3m. Vị trí số 2: vị trí xe đạp để sau tai nạn, có tâm trục bánh sau cách mép đường 2,8m, tâm trục bánh trước cách mép đường bên phải 2,25m và cách biển báo số 102 là 152m. Xe đạp có đầu xe hướng về thành phố Hải Phòng, đuôi xe hướng về Thái Bình, xe đổ dọc theo chiều đi từ Thái Bình về Hải Phòng. Vị trí số 3: vị trí lái xe mô tô quay đầu nhìn lại và bỏ đi cách vị trí số 1 là 05m, cách mép đường bên phải là 6,3m. Thu giữ tại hiện trường 01 xe đạp.
Tại bản kết luận giám định số 2157/KL-KTHS ngày 10-7-2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố H kết luận: “Dấu vết trượt xước mặt sơn màu đen, bề mặt bám dính tạp chất màu đen (dạng cao su) theo chiều từ trước về sau ở mặt ngoài yếm phải xe mô tô mang BKS: 18G1-044.80, phù hợp với dấu vết trượt xước mặt cao su màu đen, bề mặt bám dính tạp chất màu đen (dạng sơn) theo chiều từ sau về trước ở mặt sau bên trái yên xe đạp”.
Kết quả khám nghiệm tử thi bà Nguyễn Thị N ghi nhận các dấu vết, tổn thương trên cơ thể như sau: vùng thái dương bên phải có đấm bầm tím, tụ máu kích thước 3x2cm. Vùng thái dương đỉnh chấm phải có đường rách da được khâu kín bằng nhiều mũi chỉ y tế dài 30cm. Vùng đỉnh chấm có đấm bầm tím tụ máu, diện 15x10cm. Dập vỡ phức tạp xương hộp sọ vùng đỉnh chấm. Trán khi dưới da 2 bên lồng ngực.
Tại bản kết luận giám định tử thi đối với bà Nguyễn Thị N số 2028/KL-KTHS ngày 10-7-2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố H kết luận: “Không tìm thấy E (cồn) và chất ma tuý trong mẫu máu Nguyễn Thị N. Thương tích trên nạn nhân có đặc điểm hình thành do vật tày tác động. Nguyên nhân chết: Sốc chấn thương sọ não”.
Kết quả xét nghiệm đối với Nguyễn Văn V xác định âm tính với các chất ma tuý và định lượng Alcol etanol là 0,00 mg/L.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động đến gia đình để bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Vật chứng: Xe mô tô biển kiểm soát 18G1-044.80 cùng 01 đăng ký, 01 quần dài dạng quần vải màu đen, 01 áo sơ mi dài tay, 01 mũ bảo hiểm và 01 đôi giày thể thao, qua xác minh là tài sản hợp pháp của Nguyễn Văn V nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trả lại cho V. Đối với 01 xe đạp, qua xác minh là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị N nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trả lại các tài sản trên cho đại diện hợp pháp bà N. Đối với 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Văn V chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo.
Tại Bản cáo trạng số: 99/CT-VKS ngày 18-11-2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng đã truy tố Nguyễn Văn V về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung cáo trạng, bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.
Đại diện hợp pháp cho bị hại có đề nghị giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo và không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn V 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ", thời gian thử thách là 60 tháng. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo Giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Văn V. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong, không có yêu cầu khác nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 10 phút ngày 18/6/2024, tại Km50+700 Quốc lộ A thuộc địa phận xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Văn V (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18G1-044.80 không tuân thủ về tốc độ và khoảng cách khi điều khiển phương tiện giao thông, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi có bà Nguyễn Thị N đang chuyển hướng xe đạp sang đường, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ, khoản 1 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ, gây tai nạn làm bà Nguyễn Thị N chết. Sau khi gây tai nạn V đã điều khiển xe mô tô bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm.
Khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ quy định:
1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường ..."
Khoản 1 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định:
“Điều 5. Các trường hợp phải giảm tốc độ
Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:
1. Có chướng ngại vật trên đường;
[2.1] Bị cáo có giấy phép lái xe phù hợp với phương tiện do bị cáo điều khiển, nhưng không tuân thủ nguyên tắc chung khi tham gia giao thông đường bộ, không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi có chướng ngại vật trên đường nên đã gây tai nạn giao thông, hậu quả làm bà N tử vong. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" được quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.2] Về tình tiết định khung: Sau khi điều khiển xe gây tai nạn, bị cáo đã điều khiển xe bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm nên phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
- [3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- [4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn V thành khẩn khai báo, đã tự nguyện tác động đến gia đình để bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, sau khi phạm tội bị cáo đã đến công an huyện V đầu thú; bị hại là bà Nguyễn Thị N cũng có một phần lỗi khi chuyển hướng không đảm bảo an toàn là vi phạm quy định tại Điều 15 Luật giao thông đường bộ nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- [5] Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Lỗi của bị cáo là lỗi vô ý; gia đình bị hại đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị hại cũng có một phần lỗi. Xét bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; ngoài lần phạm tội này luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, không cần thiết phải buộc bị cáo phải cách ly xã hội mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự như đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, đồng thời còn thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
- [6] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- [7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình ông Phạm Xuân T2 thoả thuận xong về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [8] Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô biển kiểm soát 18G1-044.80 cùng 01 đăng ký, 01 quần dài dạng quần vải màu đen, 01 áo sơ mi dài tay, 01 mũ bảo hiểm và 01 đôi giày thể thao của bị cáo, 01 xe đạp là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị N, cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng theo quy định pháp luật. Đối với 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Văn V là giấy tờ tùy thân hợp pháp của bị cáo, cần trả lại cho bị cáo.
- [9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
- [10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
Xử phạt Nguyễn Văn V 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh đối với bị cáo.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện G, tỉnh Nam Định giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự: Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Văn V (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19-11-2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội; bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, những người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Thắng |
Bản án số 94/2024/HS-ST ngày 10/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 94/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn V - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
