|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH Bản án số: 94/2024/HS-ST Ngày: 15-11-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Tạ Kỳ Trung;
- 2. Ông Trần Văn Hùng.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hữu Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 82/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Trương Hữu Lê T, sinh năm 1994, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đăng ký HKTT: số G đường Q, phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú hiện nay: khu phố G, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Hữu L (đã chết) và bà Lê Thị Diễm T1; vợ: Lê Trương Phương L1; con: có 02 người, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: tại Quyết định số 69/2020/QĐ-XPHC, ngày 12/5/2020 của Công an xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị tạm giữ ngày 19/6/2024, tạm giam ngày 28/6/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thị xã T cho đến nay. (có mặt)
2. Lê Trương Phương L1, sinh năm 1991, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đăng ký HKTT: số G đường số D, khu phố F, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú hiện nay: khu phố G, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Phong T2 (đã chết) và bà Trương Thị H; chồng là Trương Hữu Lê T, con: có 04 người, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 19/6/2024, tạm giam ngày 28/6/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thị xã T cho đến nay. (có mặt)
Bị hại:
- 1. Ngô Lan V, sinh năm 1985. Địa chỉ: ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- 2. Nguyễn Văn T3, sinh năm 1960. Địa chỉ: ấp C, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 1. Hồ Thanh V1, sinh năm 1985. Địa chỉ: khu phố B, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- 2. Bùi Thanh L2, sinh năm 1982. Địa chỉ: khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 00 giờ ngày 17/6/2024, do không có tiền tiêu xài nên Trương Hữu Lê T chuẩn bị kiềm cộng lực, một mình điều khiển xe môtô biển số 53R5-5940 đi trên các tuyến đường khu vực phường G, thị xã T để tìm tài sản trộm cắp. Khi đến khu phố T, phường G, thị xã T, T nhìn thấy cơ sở chăm sóc sắc đẹp “Đ” do bà Ngô Lan V làm chủ đang đóng cửa, không có người trông coi. Tiền dựng xe ngoài đường, dùng kiềm cộng lực cắt ổ khóa mở cửa đi vào trong phát hiện 01 két sắt bằng kim loại, nhãn hiệu Bauche; 01 máy Laser xóa tàn nhan, không nhãn hiệu, màu xám xanh và 01 máy triệt lông, màu trắng, nhãn hiệu Honkon m80e⁺, mã số MR80e⁺ 110502680 220V. Do kích thước tài sản lớn, không thể vận chuyển đi được nên T quay về phòng trọ kể lại sự việc và rủ Lê Trương Phương L1 đi lấy trộm thì L1 đồng ý. Lúc này, T điều khiển xe môtô biển số 53R5-5940, L1 điều khiển xe môtô biển số 70H3-5029 quay lại cơ sở chăm sóc sắc đẹp “Đ”. Khi đến nơi, T và L1 khiêng két sắt để lên xe môtô biển số 53R5-5940 để T chở về phòng trọ. Sau đó, T và L1 tiếp tục điều khiển xe môtô biển số 70H3-5029 quay lại cơ sở chăm sóc sắc đẹp “Đông Âu” lần lượt lấy 01 máy Laser xóa tàn nhan và 01 máy triệt lông mang về phòng trọ cất giấu. Đến ngày 18/6/2024, khi T đang rao bán các tài sản trên mạng xã hội thì bị lực lượng Công an thị xã T phát hiện và khám xét thu giữ các đồ vật có liên quan.
Ngoài ra, tại ấp C, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh, Trương Hữu Lê T còn thực hiện hai lần trộm cắp tài sản của ông Nguyễn Văn T3, cụ thể như sau:
- Lần thứ nhất: Vào khoảng 11 giờ, ngày 10/6/2024, T một mình điều khiển xe môtô biển số 53R5-5940 đến khu vực xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh thì phát hiện nhà ông Nguyễn Văn T3 không có người trông coi. Tiền leo hàng rào vào trong, dùng xà beng (có sẵn tại nhà ông T3) phá khóa cửa sổ để đi vào nhà lấy trộm 01 Tivi nhãn hiệu LG, loại 50 inch; 01 con tỳ hưu bằng đá Phỉ Thúy màu nâu, có đế bằng gỗ trọng lượng 0,3kg; 02 con tùy hưu bằng đá Phỉ Thúy màu xanh - đỏ, trọng lượng 9,6kg; 01 con tùy hưu bằng đá Phỉ Thúy màu đen, trọng lượng 2,3kg; 01 con tùy hưu bằng đá Phỉ Thúy màu nâu, trọng lượng khoảng 2,3kg; 01 thùng loa không nhãn hiệu; 01 chai rượu Hibiki loại 21 năm, thể tích 700ml và 01 máy bơm nước, loại 1,5HP mang về phòng trọ cất giấu. Sau đó, T bán tivi nhãn hiệu LG cho anh Bùi Thanh L2 được số tiền 3.800.000 đồng, bán máy bơm nước cho một người phụ nữ mua ve chai (không rõ họ tên, địa chỉ) được số tiền 400.000 đồng, tiêu xài hết.
- Lần thứ hai: Vào khoảng 22 giờ, ngày 13/6/2024, T tiếp tục một mình điều khiển xe môtô biển số 53R5-5940 quay lại nhà của ông Nguyễn Văn T3 và vào nhà lấy trộm 01 máy điều hòa nhãn hiệu Sharp, loại 01HP; 01 bếp đôi điện từ - hồng ngoại nhãn hiệu Kangaroo; 01 vali bằng nhựa nhãn hiệu Ramita; 01 vali bằng vải nhãn hiệu TRIP mang về phòng trọ cất giấu. Sau đó, T bán máy điều hòa nhãn hiệu Sharp cho anh Hồ Thanh V1 được số tiền 2.000.000 đồng, tiêu xài hết.
- Tại Kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐGTS ngày 20/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự thị xã T, tỉnh Tây Ninh kết luận: 01 (một) két sắt bằng kim loại, nhãn hiệu Bauche trị giá 200.000 đồng; 01 (một) máy Laser xóa tàn nhan, không nhãn hiệu, màu xám xanh trị giá 15.000.000 đồng; 01 (một) máy triệt lông, màu trắng, nhãn hiệu Honkon m80e⁺, mã số MR80e⁺ 11050268 220V trị giá 30.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 45.200.000 đồng.
- Tại Kết luận định giá tài sản số 52/KL-HĐĐGTS ngày 31/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện G, tỉnh Tây Ninh kết luận: 01 (một) Tivi nhãn hiệu LG, loại 50inch trị giá 2.000.000 đồng; 01 (một) máy điều hòa nhãn hiệu Sharp, loại 01HP trị giá 4.200.000 đồng; 01 (một) bếp đôi điện từ - hồng ngoại nhãn hiệu Kangaroo trị giá 1.900.000 đồng; 01 (một) chai rượu Hibiki loại 21 năm, thể tích 700ml trị giá 21.500.000 đồng; 01 (một) thùng loa không nhãn hiệu trị giá 1.000.000 đồng; 01 con tỳ hưu bằng đá Phỉ Thúy màu nâu, có đế bằng gỗ trọng lượng 0,3kg trị giá 1.300.000 đồng; 02 con tùy hưu bằng đá Phỉ Thúy màu xanh - đỏ, trọng lượng 9,6kg trị giá 3.300.000 đồng; 01 con tùy hưu bằng đá Phỉ Thúy màu đen, trọng lượng 2,3kg trị giá 1.800.000 đồng; 01 (một) máy bơm nước, loại 1,5HP trị giá 800.000 đồng; 01 (một) vali bằng nhựa nhãn hiệu Ramita trị giá 500.000 đồng; 01 (một) vali bằng vải nhãn hiệu TRIP trị giá 800.000 đồng; 01 (một) con tùy hưu bằng đá Phỉ Thúy màu nâu, trọng lượng khoảng 2,3kg không xác định được giá trị do không có thông tin đầy đủ. Tổng trị giá tài sản là 39.100.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số: 83/CT-VKSTrB ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Trương Hữu Lê T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Lê Trương Phương L1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng trong phần tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh trên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trương Hữu Lê T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù;
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Trương Phương L1 từ 06 đến 09 tháng tù.
Xét thấy các bị cáo không có tài sản riêng nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận bị hại Ngô Lan V đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Bùi Thanh L2 và Hồ Thanh V1 không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên ghi nhận;
Ông Nguyễn Văn T3 yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền 27.500.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo T đồng ý bồi thường cho ông T3 như ông T3 yêu cầu nên ghi nhận.
Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Về bào chữa: bị cáo T và L1 thống nhất với Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát, không có ý kiến bào chữa cho mình.
Về nói lời nói sau cùng: các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa nhưng lời khai của những người này đã có đầy đủ trong hồ sơ, việc xét xử vắng mặt các bị hại không ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên bị cáo và đại diện Viện kiểm sát đề nghị xét xử vắng mặt họ. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh: Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên toà, bị cáo Trương Hữu Lê T và Lê Trương Phương L1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình giống như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với biên bản vụ việc, vật chứng, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã chứng minh được như sau: Vào các ngày 10 và 13/6/2024, tại ấp C, xã P, huyện G, tỉnh Tây Ninh, Trương Hữu Lê T đã lấy trộm của ông Nguyễn Văn T3 01 Tivi nhãn hiệu LG, loại 50inch; 01 máy điều hòa nhãn hiệu Sharp; 01 bếp đôi điện từ - hồng ngoại nhãn hiệu Kangaroo; 01 chai rượu Hibiki loại 21 năm, thể tích 700ml; 01 thùng loa; 05 con tỳ hưu bằng đá Phỉ Thúy; 01 máy bơm nước, loại 1,5HP; 01 vali bằng nhựa nhãn hiệu Ramita; 01 vali bằng vải nhãn hiệu TRIP trị giá 39.100.000 đồng.
Tiếp tục đến ngày 17/6/2024, tại cơ sở C "Đ" thuộc khu phố T, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, T cùng với Lê Trương Phương L1 lấy trộm của chị Ngô Lan V 01 két sắt nhãn hiệu Bauche, 01 máy Laser xóa tàn nhan, 01 máy triệt lông, màu trắng, nhãn hiệu Honkon m80e⁺ trị giá 45.200.000 đồng thì bị phát hiện.
Các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ, không có sự câu kết chặt chẽ trong thực hiện tội phạm nên đây là đồng phạm giản đơn.
Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trương Hữu Lê T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự và Lê Trương Phương L1 phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, xét thấy các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo L1 phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và có ông ngoại là liệt sỹ, là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự sẽ được Hội đồng xét xử xem xét khi áp dụng hình phạt đối với từng bị cáo.
- Về tình tiết tăng nặng: bị cáo L1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo T phạm tội 02 lần trở lên nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4] Về tính chất của hành vi phạm tội và hình phạt:
Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện.
Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của từng bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét thấy các bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 589 Bộ luật dân sự, Hội đồng xét xử xử lý như sau:
- Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận người bị hại Ngô Lan V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bùi Thanh L2, Hồ Thanh V1 không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Ghi nhận bị cáo T đồng ý bồi thường cho ông Nguyễn Văn T3 số tiền 27.500.000 đồng như ông T3 yêu cầu.
- Về vật chứng:
+ 01 (một) cây kiềm cộng lực bằng kim loại, hai tay cầm có quấn băng keo đen, trên kiềm có các ký hiệu 750 và 30m, chiều dài 40cm, chiều rộng 09cm, đường kính của hai tay cầm có cùng kích thước là 2,6cm, đã qua sử dụng; 01 (một) đoạn kim loại có quấn băng keo màu đen, dài 40cm, đường kính một đầu là 02cm, đường kính đầu còn lại là 2,5cm, đã qua sử dụng; 01 (một) đoạn kim loại có quấn băng keo màu đen, dài 37cm, đường kính một đầu là 02cm, đường kính đầu còn lại là 2,5cm, đã qua sử dụng; 01 (một) nón vải màu đen, có ký hiệu Gucci, đã qua sử dụng; 01 (một) cây đèn pin màu đen, có dây đeo màu đen, hiệu LED HEAD LIGHT, đã qua sử dụng; 01 (một) cái áo dài tay sọc caro màu đỏ trắng đen, cỡ áo M, đã qua sử dụng; 01 (một) quần Jean dạng lửng, hiệu HIGH END, B, kích cỡ 33, đã qua sử dụng; 01 (một) đôi dép quai kẹp màu đen, hiệu SAWASDEE BLUE MOON, đã qua sử dụng; 01 (một) cuộn băng keo trong, đường kính 12cm, mặt băng keo rộng 05cm, đã qua sử dụng; 01 (một) ổ khóa bằng kim loại màu vàng, có chữ ZSOLEXMAX, có móc khóa màu trắng đã bị cắt, đã qua sử dụng; 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng, dạng nón lưỡi trai, đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác màu trắng, có tay áo và viền áo màu đen, đã qua sử dụng. Đây là các vật chứng liên quan đến việc phạm tội nhưng không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) xe mô tô biển số 53R5-5940, số máy: 1P52FMH3Y0252290, số khung LY0PCHHB1Y2012527, loại xe 02 bánh từ 50-175cm3, nhãn hiệu Wave, dung tích xi lanh 108cm3. Trên yên xe có gắn một khung kim loại kích thước (48 x 40)cm và đế ốp nhựa màu trắng của thân xe, ốp nhựa màu trắng cả đầu xe được tháo rời, tất cả đã qua sử dụng. Đây là xe của bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- Đối với xe mô tô biển số 70H3-5029, bị cáo L1 dùng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản nhưng sau đó bị cáo L1 đã bán xe nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ được nên không xử lý.
Ghi nhận các vật chứng khác, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.
[6] Về án phí: Bị cáo T và L1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Ngoài ra, bị cáo T phải chịu 1.375.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đối với Bùi Thanh L2, Hồ Thanh V1 mua tài sản của T không biết nguồn gốc do trộm cắp mà có nên không đề cập xử lý.
Đối với hai vụ trộm cắp tài sản mà Trương Hữu Lê T thực hiện trên địa bàn huyện G và mang tài sản về phòng trọ cất giấu trong lúc Lê Trương Phương L1 đi làm công nhân không biết nên không chịu trách nhiệm hình sự chung.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c Khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trương Hữu Lê T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 19/6/2024.
Căn cứ Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Trương Phương L1 06 (S) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 19/6/2024.
2. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 589 Bộ luật dân sự:
- Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận bị hại Ngô Lan V và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Bùi Thanh L2 và Hồ Thanh V1 không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Bị cáo T có trách nhiệm bồi thường cho ông Nguyễn Văn T3 số tiền 27.500.000 (Hai mươi bảy triệu năm trăm nghìn) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về vật chứng:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây kiềm cộng lực bằng kim loại, hai tay cầm có quấn băng keo đen, trên kiềm có các ký hiệu 750 và 30m, chiều dài 40cm, chiều rộng 09cm, đường kính của hai tay cầm có cùng kích thước là 2,6cm, đã qua sử dụng; 01 (một) đoạn kim loại có quấn băng keo màu đen, dài 40cm, đường kính một đầu là 02cm, đường kính đầu còn lại là 2,5cm, đã qua sử dụng; 01 (một) đoạn kim loại có quấn băng keo màu đen, dài 37cm, đường kính một đầu là 02cm, đường kính đầu còn lại là 2,5cm, đã qua sử dụng; 01 (một) nón vải màu đen, có ký hiệu Gucci, đã qua sử dụng; 01 (một) cây đèn pin màu đen, có dây đeo màu đen, hiệu LED HEAD LIGHT, đã qua sử dụng; 01 (một) cái áo dài tay sọc caro màu đỏ trắng đen, cỡ áo M, đã qua sử dụng; 01 (một) quần Jean dạng lửng, hiệu HIGH END, B, kích cỡ 33, đã qua sử dụng; 01 (một) đôi dép quai kẹp màu đen, hiệu SAWASDEE BLUE MOON, đã qua sử dụng; 01 (một) cuộn băng keo trong, đường kính 12cm, mặt băng keo rộng 05cm, đã qua sử dụng; 01 (một) ổ khóa bằng kim loại màu vàng, có chữ ZSOLEXMAX, có móc khóa màu trắng đã bị cắt, đã qua sử dụng; 01 (một) nón bảo hiểm màu trắng, dạng nón lưỡi trai, đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác màu trắng, có tay áo và viền áo màu đen, đã qua sử dụng.
+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô biển số 53R5-5940, số máy: 1P52FMH3Y0252290, số khung LY0PCHHB1Y2012527, loại xe 02 bánh từ 50-175cm3, nhãn hiệu Wave, dung tích xi lanh 108cm3. Trên yên xe có gắn một khung kim loại kích thước (48 x 40)cm và đế ốp nhựa màu trắng của thân xe, ốp nhựa màu trắng cả đầu xe được tháo rời, tất cả đã qua sử dụng.
3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo T và L1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo T phải chịu 1.375.000 (Một triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc H1 |
Bản án số 94/2024/HS-ST ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 94/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Hữu Lê Tiền cùng đồng phạm trộm cắp tài sản
