Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HỚN QUẢN

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 94/2024/HS-ST

Ngày 05 - 12 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Học

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Trọng Vĩnh 2. Ông Thượng Quang Minh

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Sáu - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 86/2024/HSST ngày 20/11/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2024/QĐXXST-HS ngày 25/11/2024 đối với các bị cáo:

1. Lê Duy K, sinh năm 2000 tại tỉnh Hậu Giang

Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/12

Nơi thường trú: ấp L, xã T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

Cha: Lê Văn T, sinh năm: 1976, Mẹ là Cao Thị L, sinh năm 1974. Bị cáo có vợ là Võ Ngọc Y, sinh năm 2000 (đã ly hôn), bị cáo chưa có con

Tiền án, tiền sự: không

Ngày 09/6/2024, có hành vi Trộm cắp tài sản, đến ngày 21/6/2024 bị Cơ quan CSĐT Công an huyện H ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/6/2024 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Huỳnh Văn L1, sinh năm 1991, tại tỉnh Hậu Giang.

Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: không biết chữ.

Nơi thường trú: ấp L, xã T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

1

Cha: Huỳnh Văn L2, sinh năm 1966, Mẹ là Nguyễn Thị K1, sinh năm 1966; Bị cáo có vợ là Bùi Thị Ngọc B nhưng không đăng ký kết hôn, có 01 con là Bùi Thị Bích N, sinh năm 2013.

Tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân: Ngày 03/4/2024 có hành vi gây thương tích 9% cho người khác, đến ngày 05/7/2024 Cơ quan CSĐT Công an thị xã L, tỉnh Hậu Giang khởi tố vụ án, khởi tố bị can; đến ngày 16/8/2024 được đình chỉ (do người bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự). Ngày 03/9/2024, Công an thị xã L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 6.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự”.

Ngày 09/6/2024, có hành vi Trộm cắp tài sản, đến ngày 21/6/2024 bị Cơ quan CSĐT Công an huyện H ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/6/2024 cho đến nay.

Bị cáo vắng mặt có đơn yêu cầu vắng mặt.

Người bị hại: Công ty Cổ phần K2. Người đại diện theo pháp luật: Ông Đinh Đông H – chức vụ giám đốc. (vắng mặt có đơn yêu cầu vắng mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn M, sinh năm 1965. Địa chỉ: Khu công nghiệp S, Tổ G, ấp E, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Duy K, Huỳnh Văn L1 và Nguyễn Chí T1 sống cùng nhau tại phòng trọ của ông Nguyễn Đình S, thuộc ấp E, xã Đ, huyện H; đồng thời cùng làm công nhân trong Công trình xây dựng của Công ty H1 (xây dựng nhà máy lốp xe) tại Khu Công nghiệp S thuộc ấp E, xã Đ, huyện H.

Khoảng tháng 6 năm 2024, Lê Duy K nảy sinh ý định tìm tài sản có giá trị trong nhà kho của Công ty X để mang đi bán lấy tiền tiêu xài. Sau đó, K nói với Huỳnh Văn L1 và Nguyễn Chí T1 về ý định trên thì L1 và T1 đồng ý nhưng cả nhóm chưa thực hiện việc trộm cắp tài sản. Khoảng 11 giờ ngày 09/6/2024, do không còn tiền để tiêu xài nên K rủ L1 và T1 đến nhà kho của Công ty để trộm tài sản thì L1 và T1 đều đồng ý. Sau đó, L1 điều khiển xe mô tô (biển số 51K4-4342, nhãn hiệu Yamaha Nouvo) chở T1 và K đi từ nhà trọ đến nhà kho của Công ty X. Tại đây, L1 đứng chờ ngoài xe, K và T1 đi vào trước cửa nhà kho. K gặp ông Lê Văn M (là Thủ kho công ty), do K thường đến gửi dụng cụ làm việc và lấy dụng cụ trong kho nên K mượn chìa khóa nhà kho của ông M thì ông M đồng ý. K một mình đi vào trong nhà kho, còn

2

T1 đứng chờ trước cửa nhà kho. K đi vào nhà kho quan sát xung quanh để tìm tài sản có giá trị để chiếm đoạt thì thấy 01 hộp nhựa màu đỏ, K mở hộp nhựa ra thấy bên trong có 01 máy đo tọa độ. K nghĩ máy đo tọa độ có giá trị cao nên K lấy máy bỏ vào bao xác rắn rồi xách bao đi ra, trả chìa khóa cho ông M. Sau khi chiếm đoạt được máy đo tọa độ, L1 điều khiển xe mô tô chở T1 và K đi đến công trình làm việc. Tại đây, K nói với T1 và L1: “lấy được cái máy này nè, mang về phòng trọ giấu đi”; K lấy máy đo tọa độ vừa trộm được bỏ vào cốp xe mô tô biển số 51K4-4342 rồi kêu T1 và L1 chở về phòng trọ cất giấu. Sau khi cất giấu máy đo tọa độ xong, L1 và T1 tiếp tục quay lại công trình cùng K làm việc.

Đến khoảng 17 giờ cùng ngày sau khi đi làm về, K sợ bị phát hiện việc mình trộm cắp tài sản nên lấy 01 cái áo đồng phục công nhân để bọc máy đo tọa độ lại rồi bỏ vào 01 bịch nylong màu đen rồi cùng với T1 đi đến vườn tràm, cách nhà trọ khoảng 300 mét, giấu trong bụi cỏ; khi nào tìm được chỗ tiêu thụ máy đo tọa độ thì đến lấy.

Tại Cơ quan Công an, K và L1 đã thừa nhận hành vi vi phạm của mình; còn Nguyễn Chí T1 biết hành vi trộm cắp tài sản của mình bị phát hiện nên đã bỏ trốn. Cơ quan cảnh sát điều tra đã phát lệnh truy nã nhưng đến nay chưa bắt được.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số: 47/KL-HĐĐGTS ngày 18 tháng 6 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, kết luận: Giá trị của 01 máy đo tọa độ, vị trí dùng trong thi công xây dựng; nhãn hiệu LEICA TC802, màu xanh lá; trên thân máy có 01 màn hình hiển thị và các phím bấm; đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 09/6/2024 có giá là 95.652.178 đồng

Về vật chứng thu giữ:

  • - 01 máy xác định tọa độ, vị trí dùng trong thi công xây dựng, nhãn hiệu: Leica TC802, màu xanh lá; trên thân máy có 01 màn hình và phím bấm; chiều cao 36cm, rộng 17 cm, trọng lượng 05kg. Tình trạng: Máy đã qua sử dụng; 01 thùng nhựa màu đỏ (thùng đựng máy đo tọa độ), nhãn hiệu: Leica, kích thước: ngang 47cm, cao 35cm, rộng 26cm. Tình trạng: đã qua sử dụng.
  • - 01 bịch nilong màu đen, dạng 02 quai, kích thước (39 x 69)cm;
  • - 01 chiếc áo, dạng áo sơ mi, màu xanh da trời, có sọc phản quang màu xanh lá-xám. Trên áo có in dòng chữ “CBC” (là áo đồng phục lao động Công ty X). Tình trạng: đã qua sử dụng.
  • - 01 điện thoại di động, nhãn hiệu: Sam Sung Galaxy J7 Pro, Số S-ri: R58J76B6YXL, IMEL1: 356446085055635, IMEL2: 356447085055633. Bên
3

trong chứa 01 SIM đăng ký số thuê bao: 0975.118.254. Tình trạng: đã qua sử dụng.

  • - 01 điện thoại di động, nhãn hiệu: OPPO A16k, màu đen, IMEL1: 866892052571059, IMEL2: 866892052571042. Bên trong chứa 01 SIM đăng ký số thuê bao: 0362.124.924. Tình trạng: đã qua sử dụng.
  • - 01 xe mô tô biển kiểm soát 51K4- 4342, nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu xanh - xám, số khung: RLCN2B5206Y118789, số máy: 2B52-118789; Tình trạng: Không gương chiếu hậu bên trái, đã qua sử dụng.

Tại bản Cáo trạng số 92/CT-VKS ngày 20 tháng 11 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản đã truy tố Lê Duy K và Huỳnh Văn L1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Tại phiên tòa:

Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt. Các bị cáo không tranh luận.

Người bị hại có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản giữ nguyên truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Lê Duy K mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Văn L1 mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Về đề nghị xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 máy xác định tọa độ, vị trí, nhãn hiệu: Leica TC802, màu xanh lá. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của Công ty Cổ phần K2 do ông Đinh Đông H, chức vụ Giám đốc (đại diện theo pháp luật của Công ty). Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Cơ quan CSĐT đã trả lại tài sản trên cho ông Đinh Đông H là đúng quy định nên đề nghị không tiếp tục xem xét.
  • - 01 bịch nilong màu đen, dạng 02 quai, kích thước (39 x 69)cm là vật chứng vụ án, không còn giá trị sử dụng nên căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy
  • - 01 chiếc áo, dạng áo sơ mi, màu xanh da trời, có sọc phản quang màu xanh lá-xám. Trên áo có in dòng chữ “CBC”, tình trạng: đã qua sử dụng, là vật chứng vụ án không còn giá trị sử dụng nên căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy
4
  • - 01 điện thoại di động, nhãn hiệu: Sam Sung Galaxy J7 Pro, Số S-ri: R58J76B6YXL, IMEL1: 356446085055635, IMEL2: 356447085055633. Bên trong chứa 01 SIM đăng ký số thuê bao: 0975.118.254. Tình trạng: đã qua sử dụng, là điện thoại cá nhân của Huỳnh Văn L1, bị cáo đã dùng điện thoại này để liên lạc với K trong khi tực hiện hành vi phạm tội. Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu nộp Ngân sách nhà nước theo quy định.
  • - 01 điện thoại di động, nhãn hiệu: OPPO A16k, màu đen, IMEL1: 866892052571059, IMEL2: 866892052571042. Bên trong chứa 01 SIM đăng ký số thuê bao: 0362.124.924. Tình trạng: đã qua sử dụng. Là điện thoại cá nhân của Lê Duy K, bị cáo đã dùng điện thoại này để liên lạc với L1 trong khi tực hiện hành vi phạm tội. Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu nộp Ngân sách nhà nước theo quy định
  • - 01 xe mô tô biển kiểm soát 51K4- 4342, nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu xanh - xám, số khung: RLCN2B5206Y118789, số máy: 2B52-118789; Tình trạng: Không gương chiếu hậu bên trái, đã qua sử dụng. Là tài sản do L1, K, T1 góp tiền mua để cùng sử dụng, các bị cáo đã sử dụng để làm phương tiện phạm tội. Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu nộp Ngân sách nhà nước theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bị cáo và những người tham gia tố tụng. Các bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không ý kiến, khiếu nại gì nên hợp pháp. Bị hại có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình điều tra, truy tố bị hại đã cung cấp lời khai phù hợp với nội dung vụ án; tài sản bị chiếm đoạt bị hại đã nhận lại và bị hại không yêu cầu gì thêm; người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng không yêu cầu gì và đã có bản trình bày ý kiến phù hợp với nội dung vụ án nên việc vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến

5

nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử vụ án mà vắng bị hại và người có quyền và nghĩa vụ liên quan.

[2]. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá tài sản, vật chứng thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên vào ngày 09/6/2024 tại nhà kho của Công ty X thuộc Khu công nghiệp S, địa chỉ tổ G, ấp E, xã Đ, huyện H, Lê Duy K, Huỳnh Văn L1 và Nguyễn Chí T1 đã có hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt 01 máy đo tọa độ, trị giá 95.652.178 đồng của Công ty Cổ phần K2. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát đã truy tố.

[3]. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất an ninh trật tự tại địa phương, các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là hành bị pháp luật cấm nhưng chỉ vì cần tiền tiều xài cá nhân nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp nên phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội.

Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn giản đơn, các bị cáo có sự bàn bạc, tính toán trước khi thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, cũng cần đánh giá vài trò đồng phạm của từng bị cáo, nhân thân bị cáo để xem xét quyết định hình phạt.

Đối với bị cáo K là người khởi xứng, chủ mưu trong việc trộm cắp tài sản của bị hại và là người trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, bị cáo L1 là đồng phạm trong vai trò giúp sức. Do đó, xét về hành vi phạm tội thì bị cáo K phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn so với bị cáo L1.

[5]. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo K là người có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo L1: Bị cáo không có tiền án tiền sự. Thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là đồng phạm thứ yêu, tài sản bị chiếm đoạt đã được thu

6

hồi, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải, bị cáo không biết chữ nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế. Hiện tại bị cáo đang phải điều trị nội trú tại bệnh viện với tình trạng bệnh Suy thất trái, cơ tim giãn, nhiễm trùng huyết không xác định, V gan virut C mãn tính, viêm tụy cấp tính, suy thận cấp không đặc hiệu, hiện dang điều trị nội trú, lọc thân nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có tình tiết được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, không cần chấp hành hình phạt tù cũng có khả năng tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội. Đồng thời áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo L1 cũng tạo diều kiện cho bị cáo được điều trị bệnh, thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước và pháp luật dối với người phạm tội.

Bị cáo K thuộc trường hợp không được hưởng án treo theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cáo nên không xem xét cho hưởng án treo.

[6] Đối với Nguyễn Chí T1: Ngày 04/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã ra Quyết định truy nã số: 1374/QĐTN-ĐTTH nhưng đến nay chưa bắt được bị can. Ngày 08/11/2024 Cơ quan điều tra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự và Quyết định tạm đình chỉ điều tra đối với bị can. Khi nào bắt được T1 sẽ tiến hành phục hồi điều tra theo quy định.

[6]. Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý vật chứng của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ; phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Các vật chứng khác, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã xử lý đúng trình tự, thủ tục; các bị cáo và các bị hại, người liên quan khác không ý kiến, khiếu nại nên hợp pháp.

[7]. Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại đã nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt, và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

[8] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

[9] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

7

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh:

    Tuyên bố các bị cáo Lê Duy K và Huỳnh Văn L1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
    • - Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, các điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
    • Xử phạt bị cáo Lê Duy K mức án 02 (hai)năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/6/2024
    • Tiếp tục tạm giam bị cáo K thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
    • - Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các điều 17, 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
    • Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn L1 mức án mức án 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách của án treo là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 05/12/2024).
    • Giao bị cáo Huỳnh Văn L1 cho Ủy ban nhân dân xã T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
    • Tuyên bố trả tự do cho bị cáo Huỳnh Văn L1 theo quy định.
  3. Về xử lý vật chứng vụ án:
    • - Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • Tịch thu, tiêu hủy:
    • 01 bịch nilong màu đen, dạng 02 quai, kích thước (39 x 69)cm
    • 01 chiếc áo, dạng áo sơ mi, màu xanh da trời, có sọc phản quang màu xanh lá-xám. Trên áo có in dòng chữ “CBC”, tình trạng: đã qua sử dụng.
    • Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước:
8
  • 01 điện thoại di động, nhãn hiệu: S1, Số S-ri: R58J76B6YXL, IMEL1: 356446085055635, IMEL2: 356447085055633. Bên trong chứa 01 SIM đăng ký số thuê bao: 0975.118.254. Tình trạng: đã qua sử dụng.
  • 01 điện thoại di động, nhãn hiệu: OPPO A16k, màu đen, IMEL1: 866892052571059, IMEL2: 866892052571042. Bên trong chứa 01 SIM đăng ký số thuê bao: 0362.124.924. Tình trạng: đã qua sử dụng.
  • 01 xe mô tô biển kiểm soát 51K4- 4342, nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu xanh - xám, số khung: RLCN2B5206Y118789, số máy: 2B52-118789; Tình trạng: Không gương chiếu hậu bên trái, đã qua sử dụng.

(Vật chứng được mô tả và chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0006033 ngày 28/11/2024 giữa Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản).

Các vật chứng khác quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã xử lý đúng trình tự, thủ tục nên không tiếp tục xử lý.

  1. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Các bị cáo Lê Duy K và Huỳnh Văn L1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo:

    Áp dụng Điều 331 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị cáo, bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Hớn Quản;
  • - Công an huyện Hớn Quản;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - Chi cục THADS huyện Hớn Quản;
  • - Các bị cáo; Bị hại; Người có quyền, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: TA, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Đình Học

9
10
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 94/2024/HS-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 94/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ok
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger