Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2024/HS-PT

Ngày 29-11-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Thành.

Các thẩm phán: - Ông Vũ Duy Luân

- Bà Đỗ Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Sáng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 152/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Bùi Duy T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 94/2024/HSST ngày 22 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

* Bị cáo kháng cáo: Bùi Duy T, sinh năm 1997, tại tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn M, xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Bùi Văn C, sinh năm 1968 và bà Bùi Thị V, sinh năm 1971; Chưa có vợ, con; Nhân thân: Từ năm 2017 đến năm 2019 bị cáo tham gia Q; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/3/2024 đến nay.

* Bị hại: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1946 (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

- Anh Tống Văn K, sinh năm 1980

- Anh Tống Văn H, sinh năm 1983

Đều trú tại: Thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.

(Có mặt: Bị cáo; Vắng mặt anh K, anh H)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 10 phút ngày 05/02/2024, bị cáo Bùi Duy T (không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen bạc, biển số đăng ký 17B-451.46 đi trên đường Q theo hướng từ thị trấn H, huyện H về cầu T với tốc độ từ 54,98km/h đến 67,2km/h, trong điều kiện mặt đường bằng phẳng, trời mưa. Đến khoảng 18 giờ 20 phút cùng ngày, khi đi đến km44+220 đường Q thuộc địa phận thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình (là đoạn đường 2 chiều, phân chia bằng vạch sơn vàng đứt quãng, nằm trong khu đông dân cư (R.420), có đặt biển cảnh báo “nhiều chỗ ngoặt nguy hiểm liên tiếp” W.202b); bị cáo phát hiện bà Nguyễn Thị N ở phía trước đang dắt xe đạp, sơn màu xanh đi bộ sang đường hướng từ trái sang phải theo chiều đi của bị cáo, cách khoảng 30m. Bị cáo không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn mà tiếp tục điều khiển xe mô tô đi thẳng dẫn đến phần bánh xe và đầu xe mô tô bên trái phía trước do bị cáo điều khiển đã đâm vào phần giữa xe bên phải xe đạp của bà N đang đi giữa làn đường bên trái theo chiều đi của xe mô tô làm hai xe bị đổ, bà N và bị cáo ngã ra đường. Hậu quả: Bà N bị thương được đưa đi cấp cứu tại Trạm y tế xã Tân Lễ, do thương tích nặng, bà N được gia đình đưa về nhà và chết lúc 18 giờ 45 phút cùng ngày, bị cáo bị sây sát nhẹ, hai phương tiện bị hư hỏng.

Bản kết luận giám định tử thi số 190/KLGĐTT-KTHS ngày 04/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Nạn nhân Nguyễn Thị Ngô chết do chấn thương sọ não và đa chấn thương.

Bản kết luận giám định số 438/KL-KTHS ngày 12/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh của 01 tập tin video gửi giám định. Hình ảnh, diễn biến liên quan đến vụ tai nạn giao thông được trích xuất, mô tả trong phụ lục kèm theo Kết luận giám định. Vận tốc của xe mô tô thời điểm từ 2024-02-05 18:21:43 đến thời điểm 2024-02-05 18:21:44 (theo thời gian hiển thị trong tập tin video) là từ 54,98 đến 67,2 (km/h).

Bản án hình sự sơ thẩm số 94/2024/HSST ngày 22/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình quyết định:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Duy T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Duy T 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo.

Ngày 29/8/2024, bị cáo Bùi Duy T kháng cáo xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên toà:

- Bị cáo trình bày: Bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung án sơ thẩm đã kết luận. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo thành khẩn khai báo và đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo có thời gian tham gia Q. Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình. Vì vậy, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo cho bị cáo được cải tạo tại địa phương sửa chữa sai phạm trở thành công dân có ích cho xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Duy T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 94/2024/HS-ST ngày 22/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận và nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Bùi Duy T có đơn kháng cáo đảm bảo về thủ tục và thời hạn kháng cáo. Kháng cáo của bị cáo hợp lệ, được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo Bùi Duy T thấy: Khoảng 18 giờ 20 phút, ngày 05/02/2024, bị cáo không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển kiểm soát 17B4-451.46 đi trên đường Q theo hướng từ thị trấn H, huyện H về cầu T, khi đi đến Km44+200 thuộc địa phận thôn B, xã T, huyện H là đoạn đường 2 chiều, phân chia bằng vạch sơn vàng đứt quãng, nằm trong khu vực đông dân cư, có đặt biển cảnh báo “nhiều chỗ ngoặt nguy hiểm liên tiếp” số W.202b, trong điều kiện trời mua, di chuyển với tốc độ khoảng 60km/h, do chạy quá tốc độ quy định, khi có người đi bộ qua đường nên phần bánh, đầu xe mô tô do bị cáo điều kiển đâm vào phần bên phải xe đạp do bà Nguyễn Thị N đang dắt bộ sang đường từ trái sang phải theo chiều đi của xe mô tô. Hậu quả bà N bị chết do chấn thương sọ não. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 9 Điều 8, khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ và khoản 1, 5, 6, 11 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo không có giấy phép lái xe nhưng khi tham gia giao thông đã không chấp hành báo hiệu đường bộ, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn nên đã gây tai nạn giao thông đối với bà N dẫn đến bà N bị chết do chấn thương sọ não. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng pháp luật.

[3] Xét thấy, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 03 năm tù là mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo không cung cấp các tài liệu, chứng cứ nào khác làm thay đổi tình tiết, nội dung vụ án, do đó không có căn cứ xem xét giảm hình phạt và chuyển biện pháp chấp hành hình phạt cho bị cáo.

[4] Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

[5] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Duy T, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 94/2024/HSST ngày 22/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

1.1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Duy T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

1.2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Duy T 03 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

2. Về án phí phúc thẩm: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Bùi Duy T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - CA, VKS, TA, CCTHADS h. Hưng Hà;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu HCTP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Phạm Ngọc Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 94/2024/HS-PT ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 94/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger