Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIAO THỦY

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 94/2024/HS-ST

Ngày: 27- 11- 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Ngọc Giao;

Ông Phạm Tiến Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 92/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Vũ Văn Đ; sinh ngày 06 tháng 02 năm 1984 tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm E, thị trấn G (xã G cũ), huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Xuân P và bà Phạm Thị S; vợ là Lò Thị H, bị cáo có 02 con; tiền sự, tiền án: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15-6-2024 đến ngày 11-9-2024, hiện tại ngoại; “có mặt”.

2. Phạm Văn Đ1; sinh ngày 02 tháng 4 năm 1981 tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm H, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc Q (đã chết) và bà Nguyễn Thị D; vợ là Lê Thị D1, bị cáo có 02 con; tiền sự, tiền án: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15-6-2024 đến ngày 11-9-2024, hiện tại ngoại; “có mặt”.

3. Vũ Văn T; sinh ngày 17 tháng 6 năm 1980 tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm E, thị trấn G (xã G cũ), huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Xuân P và bà Phạm Thị S; vợ là Lê Thị D2, bị cáo có 04 con; tiền sự, tiền án: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11-9-2024 đến ngày 15-10-2024, hiện tại ngoại; “có mặt”.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Trường S1, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ H, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La; “vắng mặt”.

2. Anh Lương Quý Q1, sinh năm 1982, địa chỉ: xóm B, xã X, huyện X; “vắng mặt".

- Người làm chứng: Anh Lê Văn M, anh Hoàng Trọng T1, anh Lò Văn H1 và anh Quàng Văn P1; “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 10 phút ngày 11-6-2024, Lê Văn M là lái 2 của nhà xe Tấn P2 điều khiển xe ô tô khách nhãn hiệu THACO, biển số 18B - 021.04 chạy tuyến G - Sông M (Sơn La) đi từ khu vực ngã ba T, thị trấn Q đi lên thị trấn N để bắt khách, trên xe còn có phụ xe là Hoàng Trọng T1 khi đi đến khu vực xã G thì Phạm Văn Đ1 là lái 1 của nhà xe T6 lên xe. Do có khách người Thái Bình đặt vé và hẹn đón tại khu vực phà C từ trước nên M điều khiển xe đến phà Cồn Nhất để đón khách. Khoảng 19 giờ 30 cùng ngày, khi đến phà C, M quay đầu xe còn Đ1 và T1 xuống đón khách và bốc hàng lên xe. Lúc này M, Đ1 và T1 nhìn thấy xe khách Trường Sinh, biển số 26F - 00972 là xe chạy cùng tuyến nhưng là lốt trước, xuất bến lúc 19 giờ 20 cùng ngày do anh Lương Quý Q1 điều khiển cũng đang bắt khách tại khu vực phà C. Vì cho rằng xe Trường Sinh đè lốt xe mình nên Phạm Văn Đ1 rất bức xúc, Đ1 đi bộ lại gần cửa lái xe Trường S1 nói: “Xe mày đi mấy giờ đấy”, Q1 trả lời: “Đi giờ nào thì hỏi anh S1 chủ xe ấy”, sau đó Q1 điều khiển xe Trường Sinh đi luôn. Đ1 sử dụng điện thoại của nhà xe Tấn P2 gọi cho chủ xe là Vũ Văn Đ, nói về việc xe khách Trường Sinh cố tình đi trễ giờ đè lốt xe mình. Vũ Văn Đ bảo Phạm Văn Đ1 gọi điện cho chủ xe Trường Sinh để giải quyết rồi tắt máy. Do không có số điện thoại của chủ xe Trường Sinh nên Phạm Văn Đ1 gọi điện cho Vũ Văn T là anh trai của Vũ Văn Đ và cũng là chủ xe Tấn Phát 2 chạy vào các ngày chẵn, Phạm Văn Đ1 có nói cho T biết việc xe khách Trường Sinh cố tình đi trễ giờ đè lốt xe Tấn P2 và xin số điện thoại của chủ xe Trường Sinh để nói chuyện. Tá đã gửi số điện thoại của chủ xe Trường Sinh qua tin nhắn cho Phạm Văn Đ1. Do bức xúc với xe khách Trường Sinh trong việc đè lốt xe Tấn P2, khi xe T7 đi đến khu vực đầu dốc N thuộc tổ dân phố Đ, thị trấn G (thị trấn N cũ) thì Phạm Văn Đ1 lên đổi lái cho M và trực tiếp lái xe với mục đích đuổi chặn xe Trường Sinh lại để nói chuyện về việc đè lốt và bắt khách. Khoảng 19 giờ 44 phút cùng ngày, khi Phạm Văn Đ1 điều khiển xe đi đến đoạn đường tỉnh lộ 489 thuộc khu vực giữa cầu G và cầu L thì Đ1 thấy xe Trường Sinh đang dừng, bắt khách ở mép đường bên phải, Đ1 lái xe vượt lên bên trái và dừng chặn ngay trước đầu xe Trường Sinh (đầu xe hướng vào mép đường bên phải chếch khoảng 60 độ, đuôi xe quay ngang lấn sang gần hết phần đường của làn xe ngược chiều) rồi dừng xe lại, không cho xe Trường Sinh di chuyển, sau đó Đ1 xuống xe đứng ở vỉa hè hút thuốc lá. Lúc này các phương tiện chủ yếu là ô tô về 2 phía bị ách tắc một đoạn dài khoảng 300 - 400 mét từ cầu L đến gần cống Hoành Thu khoảng 04 đến 05 phút. Sau đó Vũ Văn Đ gọi điện cho Phạm Văn Đ1 hỏi: “Xe đang ở đâu?”, Phạm Văn Đ1 trả lời: “Xe vẫn đang lưu thông trên huyện G, đang đè đầu xe Trường Sinh tại N”, Vũ Văn Đ nói: “Chờ tý tao ra giải quyết”. Sau đó Vũ Văn Đ lấy 01 dùi cui điện bằng kim loại, dài khoảng 50cm và điều khiển xe mô tô, biển số 18F1-08700 đi từ nhà về phía xã H để đến nơi xảy ra vụ việc. Trong thời gian bị Phạm Văn Đ1 chặn xe lại, anh Q1 không di chuyển được xe nên đã gọi điện cho chủ xe Trường Sinh là anh Nguyễn Trường S1 thông báo về việc bị xe Tấn Phát chặn đầu giữa đường, không đi được. Anh S1 nghĩ xe Tấn Phát đó là xe của T nên đã gọi điện cho T hỏi vụ việc xô sát thế nào, T trả lời nay xe Tá không đi, mà là xe của Đ1 đi, S1 nhờ T ra giải quyết để tránh xảy ra đánh nhau. Sau đó T gọi điện cho Phạm Văn Đ1 hỏi xe đang ở đâu, Phạm Văn Đ1 nói là “Xe vẫn đang ở G, vừa đi qua H”, T nói: “Để tao ra giải quyết”. Sau đó T một mình điều khiển xe ô tô màu xanh, loại xe Toyota Hiace 16 chỗ, biển số 31F- 2358 đi từ nhà ra dốc H rồi rẽ tay phải về hướng N, trên đường đi Tá có gọi điện cho Phạm Văn Đ1 và nói: “Chờ tao ra giải quyết”.

Lúc này, các phương tiện lưu thông trên đường bị tắc, Phạm Văn Đ1 điều khiển xe di chuyển đi với tốc độ khoảng 30km/h và chủ động đánh lái đi xe ra giữa đường, lấn sang làn bên trái đè đường không cho xe Trường Sinh vượt lên trước xe mình nhằm mục đích có thêm thời gian để Vũ Văn Đ và T ra giải quyết. Xe Trường Sinh nhiều lần bật xinh nhan xin vượt nhưng Phạm Văn Đ1 không cho vượt, tiếp tục đi lấn sang phần đường bên trái, chỉ khi có xe đi ngược chiều thì Phạm Văn Đ1 mới đánh lái sang phải vừa đủ cho xe ngược chiều lưu thông. Khoảng 19 giờ 49 phút cùng ngày, khi đi đến khu vực thuộc xóm A, thị trấn G, Phạm Văn Đ1 nhìn thấy 01 xe ô tô đi ngược chiều Phạm Văn Đ1 nhận ra là xe của T và Vũ Văn Đ đã đến để giải quyết. Phạm Văn Đ1 điều khiển xe đi chậm lại rồi dừng hẳn, do khoảng cách quá gần nên xe khách Trường S1 cũng dừng ngay sau xe của Phạm Văn Đ1, cách khoảng 01 - 02 mét sau đuôi xe. Phạm Văn Đ1 vẫn ngồi trên xe khoảng 01 - 02 phút, khi nhìn thấy qua gương chiếu hậu thấy Vũ Văn Đ và T đến nên Phạm Văn Đ1 đã điều khiển xe ô tô đi luôn. Vũ Văn Đ xuống xe mô tô đứng trước đầu xe Trường Sinh rồi giơ tay chỉ trỏ sau đó cầm dùi cui điện đi vòng ra khu vực cửa tài xế. Anh Q1 lái xe hạ kính tài xế xuống và hỏi: “Sao anh” thì Vũ Văn Đ nói: “Sao giờ này mày còn đứng đây, địt mẹ mày” đồng thời Vũ Văn Đại liên T2 vung dùi cui điện lên, lùa qua khe hở của cửa tài xế rồi bấm nút mở nguồn phát ra các tia điện sáng kêu soẹt soẹt nhằm để tấn công lái xe Trường Sinh nhưng anh Q1 đã chủ động tránh được. Anh Q1 nhặt chiếc dép xốp trên xe ném qua khe hở cửa tài về phía Vũ Văn Đ nhưng Vũ Văn Đ tránh được. Sau đó Vũ Văn Đ dùng dùi cui vụt thẳng vào cửa tài khiến kính cửa tài xế vỡ vụn. Anh Q1 đã gọi điện cho anh S1 chủ xe Trường Sinh thông báo Vũ Văn Đ đã đập vỡ cửa kính tài xế. Anh S1 bảo anh Q1 chủ động báo công an đến giải quyết. Vũ Văn Đ sau khi đập vỡ kính tài xế thì đứng dưới lòng đường liên tục chửi nhau, thách thức với anh Q1 là lái xe Trường Sinh trong khoảng thời gian 10 phút. Lúc này Vũ Văn T quay đầu xe ô tô rồi đậu xe ngay sau đuôi xe khách Trường Sinh. Khi T bước xuống xe và di chuyển lên cửa lên xuống của hành khách thì Vũ Văn Đ đã dùng dùi cui đập vỡ kính cửa tài xong, cùng lúc này thì xe Tấn Phát đã di chuyển đi, T đi bộ lên khu vực cửa lên xuống bên phải xe Trường Sinh, dùng tay gõ cửa kính lên xuống nhiều lần yêu cầu anh Q1 mở cửa xe nhưng anh Q1 không mở cửa. Lúc này anh S1 chủ xe Trường S1 gọi điện cho T nói với T: “Thôi đã đập vỡ kính xe thì báo công an thôi”. Tá vẫy tay ra hiệu yêu cầu anh Q1 xuống nói chuyện nhưng anh Q1 không mở cửa thì T đi bộ ra phía sau và điều khiển xe ô tô từ phía sau, lách lên từ bên phải xe Trường Sinh vượt lên phía trước đầu xe rồi đánh lái chếch sang bên trái, đuôi xe của T đè sát đầu xe Trường Sinh. Tá xuống xe đi vòng đi vòng lại một lượt rồi ra chỗ ô cửa kính vừa bị đập hỏi Q1 lái xe: “Sao chúng mày đánh nhau” thì Q1 nói: “Ai đánh, người nhà ông chứ còn ai, người nhà ông đập kính đấy”, T bảo Q1 xuống nói chuyện thì Q1 chửi bảo: “Đập kính lên mà vào”. Tá nhặt 01 chiếc dép xốp ở dưới lòng đường giơ lên định ném qua ô cửa kính vừa bị Đ đập vỡ vào trong xe Trường Sinh nhưng sau đó T lại không ném nữa. Quá trình T đứng dưới lòng đường, bên cửa sổ của lái xe để chất vấn, yêu cầu Q1 mở cửa xe và dùng dép doạ ném Q1 thì Đ ngồi trên xe máy, ngay sau lưng Tá, luôn mồm chửi bới đe doạ nếu Q1 xuống sẽ đánh chết. Sau khi không yêu cầu được Q1 xuống xe, T đi vòng lên xe của mình ngồi rồi lại quay xuống xe đi lòng vòng quanh đầu xe khách Trường S1 và lên xe và đánh xe đi khỏi hiện trường. Tổng thời gian mà T đánh xe ô tô chặn đầu xe Trường Sinh là 04 phút 18 giây toàn bộ thời gian này các phương tiện hai chiều trên đường bị ách tắc, lưu thông khó khăn, một số hành khách trên xe Trường Sinh hoảng sợ, có người đã yêu cầu Q1 và phụ xe phải gọi công an đến để giải quyết. Ngay sau đó lực lượng công an đã có mặt tại hiện trường để giải quyết vụ việc.

Hậu quả: Chiếc xe ô tô khách Trường Sinh, biển số 26F- 00972, màu sơn vàng bị vỡ 01 ô kính trượt của ghế tài; anh Q1 bị một số mảnh vỡ của kính bắn vào mặt, tay trái làm xước da chảy máu.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ: Thu giữ của Vũ Văn T 01 xe ô tô biển số 31F- 2358 nhãn hiệu TOYOTA Hiace đã qua sử dụng; 01 điện thoại Iphone 11 pro max, đã qua sử dụng, thu giữ của Vũ Văn Đ 01 điện thoại di động loại bàn phím, bên ngoài vỏ có ghi “VERTU S-307/48” màu vàng nâu, đã qua sử dụng; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Dream, biển số 18F1-087.00. Thu giữ của chị Lê Thị D2 (vợ của Vũ Văn T) 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia Model TA-1010, đã qua sử dụng; thu giữ của xe khách Trường Sinh 01 thẻ nhớ HIKVISION 64GB được thu trên camera hành trình của xe khách Trường Sinh. Quá trình khám nghiệm hiện trường: thu giữ một số mẫu kính vỡ vương vãi trên mặt đường nhựa (không rõ hình, kích thước nhỏ); Thu giữ của Phạm Văn Đ1 01 xe ô tô khách nhãn hiệu THACO biển số 18B - 021.04 đã qua sử dụng; 01 thẻ nhớ camera hành trình của xe nhãn hiệu DSS, dung lượng 32GB, một mặt màu đỏ - trắng, một mặt màu đen; 01 đăng ký xe ô tô biển số 18B - 021.04 chủ xe là Công ty TNHH D3; 01 giấy đăng kiểm của xe ô tô biển số 18B - 021.04; thu giữ của anh Lò Văn H1, sinh năm 2001, ở Tổ H, phường C, TP S 02 đoạn video clip do tự quay bằng máy điện thoại cá nhân có dung lượng lần lượt là 21,7MB (04 phút 28 giây) và 30,8 MB (03 phút 58 giây); thu giữ 08 đoạn video clip trích xuất từ camera an ninh tại các khu vực gồm: Bến phà C, Nhà văn hóa huyện G, Bến xe G, Cầu Giao S2, Đồ thờ H, Cây xăng H, Cầu Xuân P3, Đ2 gỗ Hoàng K.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 13 ngày 14 tháng 6 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện G, kết luận: 01 kính trượt cửa tài của xe ô tô nhãn hiệu THACO số loại TB120SL, biển số 26F-009.72, sản xuất năm 2017, giá thị trường của loại kính mới này là 750.000 đồng. Kính trong vụ việc trên còn lại 60%, thành tiền 750.000₫ x 60% = 450.000 đồng.

Tiền công lắp đặt là 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng).

Tổng cộng thiệt hại: 450.000 đồng + 50.000 đồng = 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).

Tại bản Cáo trạng số 94/CT-VKS ngày 31-10- 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo Vũ Văn Đ về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Phạm Văn Đ1 và Vũ Văn T về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Vũ Văn Đ, Phạm Văn Đ1 và Vũ Văn T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ Luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Vũ Văn Đại T3 27 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 54 tháng đến 60 tháng; Căn cứ vào khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Văn Đại T4 09 tháng đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng; xử phạt Vũ Văn T từ 06 tháng đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu cho tiêu hủy một số mảnh kính vỡ không rõ hình dạng thù.

Các bị cáo không bào chữa, không tranh luận gì. Trước khi HĐXX vào nghị án, các bị cáo nói lời sau cùng xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Do mâu thuẫn trong việc xe khách Trường Sinh do anh Lương Quý Q1 điều khiển cố tình đi chậm, đè lốt xe khách Tấn P2 để bắt khách. Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 11-6-2024, Phạm Văn Đ1 điều khiển xe THACO Tấn Phát, biển số 18B - 021.41 di chuyển trên đường T đoạn từ cầu G đến cầu L, thị trấn G có hành vi điều khiển xe ô tô khách vượt lên phía trước xe khách Trường S1 đánh lái theo hướng đầu xe sát vào mép đường bên phải (theo chiều đi), đuôi xe đánh ra giữa đường, lấn sang làn đường ngược chiều để ép không cho xe khách Trường Sinh biển số 26F - 00972 di chuyển. Việc chặn xe khách Trường Sinh BKS: 26F - 00972 diễn ra trong khoảng thời gian 05 phút trên đường tỉnh lộ 489 làm nhiều phương tiện giao thông trên tuyến đường không lưu thông được. Sau đó, Đ1 tiếp tục có hành vi điều khiển xe ô tô khách biển số 18B - 021.41 di chuyển trên đường tỉnh lộ 489 với tốc độ khoảng 30 km/h, liên tục đè vạch kẻ đường, lấn sang làn đường ngược chiều không cho xe ô tô khách Trường Sinh biển số 26F - 00972 đi phía sau xin vượt.

Sau đó Vũ Văn Đ có hành vi dùng hung khí là 01 dùi cui điện bằng kim loại đi đến đoạn đường tỉnh lộ 489 thuộc xóm A, thị trấn G, huyện G, gặp anh Lương Quý Q1 là lái xe Trường Sinh; Đại chửi bới, đe doạ và liên tục dùng dùi cui điện lùa qua khe hở rồi bấm nguồn phát ra các tia lửa điện kêu “xoẹt xoẹt” nhằm tấn công anh Q1 và dùng dùi cui điện đập làm vỡ cửa kính tài xế rồi tiếp tục dùng dùi cui điện đe doạ, chửi nhau với anh Q1 gây cản trở cho các phương tiện khác lưu thông trên trục đường tỉnh lộ 489 trong khoảng thời gian khoảng 10 phút.

Tiếp đó Vũ Văn T điều khiển xe ô tô 16 chỗ Toyota, Hiace màu xanh, biển số 31F-2358 ra vị trí xe khách Trường Sinh đang dừng, thấy Vũ Văn Đ đang chửi và đe doạ anh Q1 nhưng T không hề can ngăn mà liên tục yêu cầu anh Q1 xuống nói chuyện. Sau đó T đánh xe ô tô biển số 31F- 2358 men theo khoảng trống lề đường bên phải của xe khách Trường Sinh rồi vượt lên phía trước xe khách Trường Sinh đồng thời đánh lái chếch đầu xe ra ngoài, đuôi xe áp sáp đầu xe khách Trường Sinh khiến xe Trường Sinh không lưu thông được, các phương tiện trên đường lưu thông khó khăn. Sau đó T có hành vi nhặt 01 chiếc dép xốp dưới lòng đường giơ lên định ném qua ô kính vừa vỡ vào trong xe khách Trường Sinh nhằm đe doạ với lái xe Trường Sinh

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã gây cản trở hoạt động của các phương tiện tham gia giao thông và hoạt động của xe khách Trường Sinh, ảnh hưởng xấu tới an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên tuyến đường tỉnh lộ 489, gây bức xúc cho các hành khách trên xe khách Trường Sinh nói riêng và quần chúng nhân dân nói chung; đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự chung, gây mất trật tự khu đông dân cư, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Hành vi của các bị cáo Phạm Văn Đ1 và Vũ Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Vũ Văn Đ đã có hành vi sử dụng hung khí (dùi cui điện) đe doạ anh Lương Quý Q1 là lái xe khách T5 nên đã đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đều có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; vì vậy các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Phạm Văn Đ1 và Vũ Văn T phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo là lao động chính trong gia đình hoàn cảnh khó khăn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo; nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, vị trí vai trò của mỗi bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy: Các bị cáo là lao động chính trong gia đình, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian sẽ khó khăn cho gia đình nên cần xử phạt các bị cáo bằng hình phạt tù tuy nhiên chưa cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo kèm theo thời gian thử thách, phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

[7] Đối với anh Lương Quý Q1 là người điều khiển xe khách Trường Sinh, quá trình điều khiển xe khách trên từ Bến phà C đến khu vực hiện trường thuộc xóm A, Thị trấn G, Q1 có các sai phạm như: Dừng đỗ sai quy định; Xuất bến không đúng giờ quy định. Khi xảy ra mâu thuẫn tại khu vực xóm A, xã G có hành vi chửi bới Vũ Văn Đ và Vũ Văn T tuy nhiên hành vi của Q1 chỉ là vi phạm hành chính. Quá trình điều khiển xe ô tô không có căn cứ khẳng định Q1 phóng nhanh, vượt ẩu, đánh võng. Khi bị xe khách Tấn P2 chặn đầu xe và ép không cho vượt lên, Q1 không có hành động gì, nên hành vi của anh Q1 không có dấu hiệu cấu thành tội gây rối trật tự công cộng, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện G không đặt ra vấn đề xử lý đối với Q1 là phù hợp.

Đối với Lê Văn M và Hoàng Trọng T1; quá trình điều tra xác định M và T1 không tham gia giúp sức gì cho Phạm Văn Đ1, không xúi giục hay trao đổi bàn bạc gì với Phạm Văn Đ1 trong quá trình Phạm Văn Đ1 thực hiện các hành vi của Đ1 ngày 11-6-2024 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G không đặt ra vấn đề xử lý đối với M và T1 là phù hợp.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với một số mảnh kính vỡ không rõ hình dạng thù trong quá trình khám nghiệm hiện trường cần tịch thu cho tiêu hủy.

[9] Về vấn đề dân sự: Hành vi của Vũ Văn Đ đập vỡ ô cửa kính tài xế của xe khách Trường Sinh gây thiệt hại vật chất với số tiền là 500.000 đồng. Hành vi của Vũ Văn Đ và Phạm Văn Đ1 gây cản trở giao thông, làm chậm tiến độ di chuyển của xe khách Trường Sinh, ảnh hưởng đến hoạt động chở khách, chở hàng của nhà xe T8 gây ảnh hưởng đến uy tín của nhà xe T8. Tuy nhiên anh Nguyễn Trường S1, không yêu cầu Vũ Văn Đ và Phạm Văn Đ1 phải bồi thường bất kỳ khoản tiền nào, nên vấn đề dân sự không đặt ra.

[10] Đối với 01 điện thoại Iphone 11 pro max đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia Model TA-1010, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động, bên ngoài vỏ có ghi “VERTU S-307/48” màu vàng nâu đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển số 18F1-087.00 là những tài sản trên là tài sản hợp pháp của Vũ Văn T, Vũ Văn Đ không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại tài sản trên cho các bị cáo là phù hợp.

[11] Đối với 01 xe ô tô khách nhãn hiệu THACO biển số 18B - 021.04; 01 thẻ nhớ camera hành trình của xe nhãn hiệu DSS, dung lượng 32GB, một mặt màu đỏ - trắng, một mặt màu đen; 01 đăng ký xe ô tô biển số 18B - 021.04 chủ xe là Công ty TNHH D3; 01 giấy đăng kiểm của xe ô tô biển số 18B - 021.04. Quá trình điều tra xác định những tài sản trên là tài sản hợp pháp của Công ty TNHH D3. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại tài sản trên cho Công ty TNHH D3 là phù hợp.

[12] Đối với 01 thẻ nhớ HIKVISION 64GB; qua xác minh những tài sản trên là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Trường S1, sinh năm 1984, trú tại Tổ H, phường C, TP ., Sơn La (chủ xe Trường Sinh). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại tài sản trên cho anh S1.

[13] Đối với 01 xe ô tô biển số 31F- 2358 thu giữ của Vũ Văn T. Qua xác minh chiếc xe trên là do Vũ Văn T mua lại trong quá trình thanh lý xe ô tô ở Thái Bình, hiện không có giấy tờ đăng ký nên Cơ quan cảnh sát điều tra tách ra để xử lý sau là phù hợp.

[14] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm; các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Vũ Văn Đ, Phạm Văn Đ1 và Vũ Văn T phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

    Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Vũ Văn Đ 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, kể từ ngày tuyên án; (bị cáo Vũ Văn Đ đã bị tạm giam từ ngày 15-6-2024 đến ngày 11-9-2024).

    Căn cứ vào khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ1 10 tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách 01 năm 08 tháng kể từ ngày tuyên án; (bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 15-6-2024 đến ngày 11-9-2024).

    Căn cứ vào khoản 1 Điều 318; điểm i, s Điều 318 khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Vũ Văn T 06 tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách 01 năm kể từ ngày tuyên án; (bị cáo đã bị tạm giam từ ngày11-9-2024 đến ngày 15-10-2024).

    Giao các bị cáo Vũ Văn Đ và Vũ Văn T cho Ủy ban nhân dân thị trấn G, huyện G, tỉnh Nam Định; Giao bị cáo Phạm Văn Đ1 cho Ủy ban nhân dân xã G, huyện G, tỉnh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu cho tiêu hủy một số mảnh kính vỡ không rõ hình thù (theo Biên bản giao nhận vật chứng số 11 ngày 06-11- 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy).
  3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Vũ Văn Đ, Phạm Văn Đ1 và Vũ Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND huyện Giao Thủy;
  • - CQĐT Công an huyện Giao Thủy;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Giao Thủy;
  • - Chi cục THADS huyện Giao Thủy;
  • - UBND thị trấn Giao Thuỷ;
  • - UBND xã Giao Châu;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Trần Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 94/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 94/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger