Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM ĐẢO

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2024/HS-ST

Ngày 22 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Thái

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tạ Văn Trần

Ông Lê Kim Trọng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 82 /2024/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2024/QĐXXST - HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Duy H, sinh ngày 05/8/2023 tại thị trấn H huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Tổ dân phố C, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/7/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc “có mặt”.

  2. Trần Đức A, sinh ngày 11/11/2000 tại thị trấn G, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn G, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C và bà Vũ Thị H3; có vợ Nguyễn Thị M (Đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không

    Hoạt động bản thân: Ngày 20/02/2019 nhập ngũ, đóng quân tại Đại đội 20, Trung đoàn 18, Sư đoàn C1, Quân đoàn B đến ngày 18/01/2021 hoàn thành nghĩa vụ quân sự, xuất ngũ về địa phương.

    Nhân thân: Tại bản án số 90/2024/HS-ST ngày 10/7/2024 Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên xử phạt Trần Đức A 01 năm 03 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (hành vi phạm tội xảy ra ngày 08/3/2024), bị cáo hiện đang chấp hành án tại Trại giam V2 – Bộ C2 “có mặt”.

  3. Đào Công N; sinh ngày 16/6/2003; tại thị trấn H huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Tổ dân phố N, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Sán Dìu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn H4 và bà Trương Thị N1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

    Hoạt động bản thân: Ngày 17/02/2022 nhập ngũ, đóng quân tại tiểu đoàn 25, bộ T3, đến ngày 29/01/2024 hoàn thành nghĩa vụ quân sự, xuất ngũ về địa phương, bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/5/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc “có mặt”.

  4. Hoàng Đức D; sinh ngày 14/11/2002 tại thị trấn H huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Sán Dìu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T và bà Tạ Thị M1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

    Hoạt động bản thân: Ngày 17/02/2022 nhập ngũ, đóng quân tại tiểu đoàn 25, bộ T3, đến ngày 29/01/2024 hoàn thành nghĩa vụ quân sự, xuất ngũ về địa phương, bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/5/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc “có mặt”.

  5. Trần Văn T1; sinh ngày 09/02/2003 tại xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn Q, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Sán Dìu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ và bà La Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

    Hoạt động bản thân: Ngày 17/02/2022 nhập ngũ, đóng quân tại tiểu đoàn 25, bộ T3, đến ngày 29/01/2024 hoàn thành nghĩa vụ quân sự, xuất ngũ về địa phương, bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/5/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc “có mặt”.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Hoàng Văn T2, sinh năm 2002; nơi cư trú: Tổ dân phố C, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc “vắng mặt”.

Người làm chứng: Anh Đặng Văn V, sinh năm 2002 ; nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Buổi tối ngày 29/01/2024, gia đình Đặng Văn V, sinh năm 2002, ở thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc tổ chức tiệc tất niên, V mời Đào Công N, sinh năm 2003, Hoàng Đức D, sinh năm 2002 đều ở thị trấn H, huyện T, Trần Văn T1, sinh năm 2003, ở xã M, huyện T (là bạn cùng đơn vị đóng quân và cùng xuất ngũ với V vào ngày 29/01/2024), anh Trần Văn D1, sinh năm 1993, ở xã H, huyện T đến nhà V uống rượu, đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì uống rượu xong. Lúc này, D rủ cả nhóm đi hát Karaoke, tất cả đồng ý và thống nhất tiền phòng hát sẽ chia đều (trừ D1 là khách mời không phải trả tiền phòng hát). Sau đó cả nhóm đi đến quán K do anh Hoàng Văn T2, sinh năm 2002, ở TDP. C, thị trấn H, huyện T làm chủ để hát. Tại đây, N gặp anh T2 và anh Tạ Quý N2, sinh năm 2005, ở thị trấn H, huyện T là quản lý đặt vấn đề thuê phòng hát và 04 nhân viên vào rót bia, bấm bài, anh N2 đồng ý rồi bố trí cho nhóm của N vào phòng Vip 1 của quán và gọi 04 nữ nhân viên (không xác định rõ tên, tuổi, địa chỉ) vào phòng phục vụ. Sau khi vào phòng một lúc thì V nằm ngủ trên ghế trong phòng. Khi hát được khoảng 15 phút thì anh D1 về trước trong phòng chỉ còn N, T1, V, D. Trong quá trình hát, N có mời bạn là Nguyễn Duy H, sinh năm 2003, ở thị trấn H, huyện T, Trần Đức A, sinh năm 2000, ở thị trấn G, huyện B vào phòng Vip 1 hát và uống bia cùng. Đến khoảng 00 giờ ngày 30/01/2024, do say rượu và mệt muốn nghỉ hát nên D bảo 04 nhân viên ra khỏi phòng V1 rồi V cùng D đi ra quầy lễ tân gặp T2, V đưa điện thoại của V cho D để chuyển khoản thanh toán cho T2 2.500.000đ tiền phòng hát – là phần của V (tiền phòng hát lúc này khoảng 5.500.000đ), T1 cũng ra gặp và đưa cho T2 1.100.000đ tiền phòng hát – là phần của T1. Sau khi thanh toán tiền phòng hát xong do không có xe về nên V quay lại phòng Vip 1 nằm ngủ. Khi vào phòng V3, sợ Thật tiêu hết tiền nên D bảo T1 đưa cho D 1.000.000đ để D cầm giúp, T1 đồng ý rồi đưa 1.000.000đ cho D. Do thấy mọi người chuẩn bị về nên H rủ cả nhóm “Anh em có làm tí ma túy kẹo, ma túy ke không” (tức ma túy MDMA và ma túy Ketamine) thì N, T1, D, Đức A đều đồng ý còn V đang ngủ nên không biết gì. Lúc này, D đứng ra thu tiền mua ma túy thì N đưa cho D 1.700.000đ, D nói với T1 góp tiền thì T1 nói với D lấy luôn 1.000.000₫ Thật gửi D trước đó để góp tiền mua ma túy nên D lấy 1.000.000₫ của Thật ra góp cùng số tiền của N được 2.700.000đ rồi D đưa số tiền trên cho H để H và Đức A đi mua ma tuý về sử dụng. Sau đó, H và Đức A đi mua được 01 túi ma túy Ketamine và 02 viên ma túy kẹo đem về phòng Vip 1 quán A66, lúc này khoảng 01 giờ cùng ngày. Đức A để gói ma túy Ketamine trên mặt bàn rồi cầm 02 viên ma tuý MDMA bẻ thành các mảnh nhỏ để ra bàn rồi nói “Anh, em ra dùng” thì N đi đến chỗ Đức A được Đức A đưa cho một mảnh ma tuý MDMA thì N sử dụng bằng hình thức uống cùng nước lọc rồi N cầm một mảnh ma tuý MDMA đưa cho T1 sử dụng bằng hình thức uống cùng nước lọc, H cũng tự lấy một mảnh ma tuý MDMA sử dụng bằng hình thức uống cùng nước lọc. Một lúc sau, Đức A đi ra khỏi phòng Vip 1 đến quầy lễ tân và tự lấy 01 đĩa sứ hình tròn, màu trắng đem vào phòng Vip 1 lau khô, dùng bật lửa hơ khô đĩa sứ rồi đổ gói ma tuý Ketamine ra đĩa, tiếp đó, Đức A tự lấy chiếc thẻ ATM mang trên TRAN DUC ANH của mình để xào và chia ma tuý Ketamine thành các đường nhỏ để mọi người sử dụng rồi Đức A nói với D xem ai có tờ tiền polime lấy ra để cuốn thành ống hút ma tuý thì D nói với mọi người “Ai có tờ tiền polime nào bỏ ra để cuốn”, nghe thấy vậy nên T1 đưa cho D tờ tiền polime mệnh giá 10.000đ, D cầm tờ tiền này cuốn thành ống hút nhưng do không quen nên không cuốn được thì Đức A bảo D đưa tờ tiền cho Đức A để Đức A cuốn ống hút cho nhanh rồi Đức A cầm tờ tiền trên cuốn thành ống hút còn D và H mỗi người xé 01 vỏ đầu lọc điếu thuốc lá Thăng L1 đưa cho Đức A để cố định 02 đầu tờ tiền thành ống hút để sử dụng ma tuý. Cùng lúc này, V tỉnh dậy thì Đức A nói với mọi người “Anh em đến chơi” (ý rủ mọi người sử dụng ma túy Ketamine) rồi Đức A sử dụng ma túy Ketamine đầu tiên bằng hình thức hít vào cơ thể, sau đó, lần lượt N, D, T1, H sử dụng ma tuý Ketamine bằng hình thức hít vào cơ thể rồi H cầm đĩa ma tuý Ketamine đưa cho V và nói “Chơi đi bạn” thì V cũng sử dụng một đường ma tuý Ketamine bằng hình thức hít vào cơ thể. Sau khi, V sử dụng ma túy Ketamine xong thì Đức A đưa cho V một mảnh ma túy MDMA để sử dụng, V cầm mảnh ma túy này sử dụng bằng hình thức uống cùng nước lọc. Sau khi sử dụng ma tuý xong V tiếp tục nằm ngủ.

Các đối tượng sử dụng ma túy đến khoảng 02 giờ ngày 30/01/2024 thì bị tổ công tác Công an huyện T kiểm tra, phát hiện, lợi dụng sở hở H, Đức A, T1, D bỏ chạy, sau đó ra trình diện. Tổ công tác lập biên bản sự việc, thu giữ trong phòng Vip1: Thu trên mặt bàn kính tại phòng Vip 1: 01 đĩa sứ màu trắng, hình tròn, trên bề mặt đĩa sứ còn bám dính chất bột màu trắng nghi là ma túy, thu trên mặt đĩa sứ 01 ống hút hình trụ tròn được cuốn bằng 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 10.000₫ được cố định bởi 02 vỏ đầu lọc bao thuốc lá màu vàng, bên trong có bám dính chất bột màu trắng, 01 thẻ ATM V4 màu xanh mang tên TRAN DUC ANH, niêm phong ký hiệu M1; Thu trên mặt ghế da phòng Vip 1 các hạt tinh thể dạng đá màu trắng rơi vãi, vật chứng được thu gom vào gói giấy màu trắng, niêm phong ký hiệu M2; Thu trên nền phòng Vip 1: 02 vỏ túi ni lon (trong đó có 01 túi ni lon màu trắng có mép vuốt màu xanh, bên trong bám dính chất bột màu trắng, 01 túi ni lon màu trắng có mép vuốt màu vàng, bên trong bám dính chất chất bột màu trắng, niêm phong ký hiệu M3; 02 bật lửa ga, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, 15 vỏ bóng làm bằng cao su màu trắng đã qua sử dụng, 01 bình khí (cười) vỏ bằng kim loại màu xanh; tạm giữ của N 01 ví giả da màu nâu sẫm, 01 ĐTDĐ Iphone 6 màu xám, bên trong gắn thẻ sim, 01 xe mô tô BKS: 88E1 - 33805; của V 01 ví giả da màu nâu sẫm, 01 ĐTDĐ nhãn hiệu OPPO A92 màu xanh, tím bên trong gắn thẻ sim, của H 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Nokia loại bàn phím, bên trong gắn thẻ sim; 01 bình khí vỏ bằng kim loại màu xanh, 15 vỏ bóng cao su màu trắng đã qua sử dụng; 01 xe máy BKS: 88E1 - 33805 nhãn hiệu Honda Wave.

Quá trình điều tra, CQĐT đã thu mẫu nước tiểu của V, N, T1, niêm phong theo quy định phục vụ công tác giám định, T2 giao nộp 01 đầu thu nhãn hiệu @hua.

Tại Kết luận giám định số 358 ngày 03/02/2024, Phòng K1 Công an tỉnh V, kết luận: “1. Chất bột màu trắng bám dính trên bề mặt đĩa sứ có trong mẫu ký hiệu M1 gửi giám định là ma tuý, loại Ketamine. Không xác định được khối lượng của chất bám dính do mẫu tồn tại ở dạng vết. 2. Chất bột màu trắng bám dính trên ống hút có trong mẫu ký hiệu M1 gửi giám định là ma tuý, loại Ketamine. Không xác định được khối lượng của chất bám dính do mẫu tồn tại ở dạng vết. 3. Chất bột màu trắng bám dính trên bề mặt thẻ cứng có trong mẫu ký hiệu M1 gửi giám định là ma tuý, loại Ketamine. Không xác định được khối lượng của chất bám dính do mẫu tồn tại ở dạng vết”.

Tại Kết luận giám định số 356 ngày 03/02/2024, Phòng K1 Công an tỉnh V kết luận: “Tinh thể dạng đá màu trắng của mẫu ký hiệu M2 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,0208g (không kể bao bì) loại Ketamine”.

Tại Kết luận giám định số 357 ngày 03/02/2024, Phòng K1 Công an tỉnh V kết luận: “1. Chất màu trắng bám dính bên trong túi nilon màu trắng có mép vuốt màu xanh có trong mẫu ký hiệu M3 gửi giám định là ma tuý, loại Ketamine. Không xác định được khối lượng chất bám dính do mẫu tồn tại ở dạng vết. 2. Chất màu trắng bám dính bên trong túi nilon màu trắng có mép vuốt màu vàng có trong mẫu ký hiệu M3 gửi giám định là ma tuý, loại Ketamine và MDMA. Không xác định được khối lượng chất bám dính do mẫu tồn tại ở dạng vết".

Tại các Kết luận giám định số 397, 398, 404 cùng ngày 06/02/2024, Phòng K1 Công an tỉnh V kết luận: “Tìm thấy chất ma tuý Ketamine và MDMA trong mẫu nước tiểu của Trần Văn T1, Đặng Văn V, Đào Công N”.

Về nguồn gốc ma tuý Ketamine, MDMA và người bán ma túy cho H, Đức A, quá trình điều tra H, Đức A khai: Khoảng 00 giờ ngày 30/01/2024, H và Đức A đến khu vực cổng chợ Q, thị trấn G, huyện B gặp một người đàn ông lạ mặt khoảng 30 tuổi và mua được của người này 02 viên ma túy MDMA, 01 chỉ ma túy Ketamine với giá 2.000.000₫ rồi đem về quán K tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như nêu trên. Đối với người bán ma túy cho H, Đức A, do H và Đức A không biết họ tên, tuổi, địa chỉ, không nhớ đặc điểm nhận dạng của người này nên CQĐT không có cơ sở điều tra trong vụ án này, CQĐT tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Đối với người đàn ông lái xe taxi chở Đức A và H đi mua ma tuý, quá trình điều tra Đức A và H khai không biết tên, tuổi, địa chỉ, không nhớ BKS xe taxi của người này, bên cạnh đó H và Đức A không bàn bạc, trao đổi gì với người đàn ông này về việc mua ma túy về để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại quán A66 nên CQĐT không đề cập xử lý đối với người đàn ông lái xe taxi là có căn cứ.

Đối với Đặng Văn V, quá trình điều tra xác định: Trong quá trình hát, do say rượu, mệt và muốn nghỉ hát nên V ra thanh toán tiền phòng hát (phần của V) để nghỉ nhưng do không có xe nên V quay lại phòng Vip 1 ngủ. Sau khi V thanh toán tiền phòng hát rồi quay lại phòng Vip 1 ngủ các đối tượng mới bàn bạc trao đổi về việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng Vip 1 quán A66. Bản thân V không tham gia bàn bạc, trao đổi, không góp tiền, không có hành vi gì giúp sức cho các đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng Vip 1 quán A66 nên CQĐT không đề cập xử lý đối với V là có căn cứ. CQĐT đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với V về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với Trần Văn D1, quá trình điều tra xác định: Sau khi vào phòng Vip 1 quán A66 hát được khoảng 15 phút thì D1 về trước không biết các đối tượng bàn bạc trao đổi về việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng Vip 1 quán A66, bản thân D1 không có hành vi gì giúp sức cho các đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng Vip 1 quán A66 nên CQĐT không đề cập xử lý đối với D1 là có căn cứ.

Đối với Hoàng Văn T2 là chủ quán A66 và Tạ Quý N2 là quản lý quán K, quá trình điều tra xác định T2, N2 không biết, không bàn bạc, trao đổi gì, không có hành vi gì giúp sức cho các đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng Vip 1 quán A66 nên CQĐT không đề cập xử lý đối với T2, N2 là có căn cứ. Ngày 30/8/2024, Chủ tịch UBND huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T2.

Đối với 04 nhân viên vào phục vụ phòng Vip 1 vào buổi tối ngày 29/01/2024, quá trình điều tra xác định thời điểm các đối tượng bàn bạc, trao đổi về việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng Vip 1 quán A66 thì các nhân viên trên đã không còn phục vụ tại phòng Vip 1 nên những người này không biết các đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng Vip 1. Quá trình điều tra xác định những nhân viên trên Trường thuê của chị Trần Thị S, sinh năm 1990, HKTT: thị trấn H, huyện T, sau khi sự việc xảy ra các nhân viên này đã bỏ đi nơi khác làm, chị S không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của 04 nữ nhân viên trên nên Cơ quan điều tra không làm việc được với những người này.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Duy H, Trần Đức A, Hoàng Đức D, Đào Công N và Trần Văn T1 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân.

Tại bản Cáo trạng số: 90/CT-VKSTĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo truy tố các bị cáo Nguyễn Duy H, Trần Đức A, Đào Công N, Hoàng Đức D, và Trần Văn T1 “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Duy H, Trần Đức A, Đào Công N, Hoàng Đức D và Trần Văn T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy H từ 08 năm 03 tháng đến 08 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 08/7/2024.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 56 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Đức A từ 08 năm 03 tháng đến 08 năm 06 tháng tù, tổng hợp với hình phạt 01 năm 03 tháng tù của Bản án số 90/2024/HS-ST ngày 10/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 09 năm 06 tháng tù đến 09 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 18/3/2024.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đào Công N từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 28/5/2024.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Đức D từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 28/5/2024.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn T1 từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 28/5/2024.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo là lao động tự do nên không áp dụng phạt tiền đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Đối với 01 chiếc đĩa sứ hình tròn, màu trắng, 01 thẻ ATM, trên bề mặt thẻ có in chữ V4 màu xanh, có số 9704368622013118018 tên TRAN DUC ANH, quá trình điều tra xác định là tài sản của quán A66 và của Đức A là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.

  • - Đối với 01 ống hút bằng tờ tiền Polyme mệnh giá 10.000đ được cố định bằng 02 vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng là công cụ, phương tiện phạm tội cần tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với tờ tiền Polyme mệnh giá 10.000đ, tịch thu tiêu hủy đối với 02 vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng.
  • - Mẫu M2 = 0,0208g ma túy Ketamine hoàn lại sau giám định = 0,000g cùng toàn bộ bao gói là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 02 túi nilon của mẫu M3 cùng toàn bộ bao gói là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
  • - 02 chiếc bật lửa ga (01 chiếc màu đỏ, 01 chiếc màu vàng), 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng là của Hoàng Đức D là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 bình khí vỏ bằng kim loại màu xanh, 15 vỏ bóng cao su màu trắng đã qua sử dụng, quá trình điều tra xác định là bình, bóng bay được bơm khí vào sử dụng (bóng cười) do nhóm của D sử dụng tại phòng Vip 1 trước khi sử dụng ma túy, nguồn gốc do Hoàng Văn T2 đặt của một người không rõ tên, tuổi, địa chỉ ở thành phố V và được người này ship đến quán cho nhóm D sử dụng. Do bóng cười không nằm trong danh mục các chất ma túy theo quy định tại Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 nên CQĐT không đề cập xử lý đối với các đối tượng về hành vi này. Đối với người bán bình khí, bóng bay cho T2 do T2 không biết nhân thân, lai lịch người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra trong vụ án này. Tuy nhiên đối với bình khí và 15 vỏ bóng cao su không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 ví giả da màu nâu sẫm và 01 ĐTDĐ nhãn hiệu OPPO màu xanh, tím bên trong gắn thẻ sim là tài sản hợp pháp của Đặng Văn V không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho V.
  • - Đối với 01 ví giả da màu nâu sẫm, 01 ĐTDĐ Iphone 6 màu xám, bên trong gắn thẻ sim là tài sản hợp pháp của Đào Công N không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho N chiếc ví giả da màu nâu sẫm, nhưng tiếp tục tạm giữ đối với chiếc ĐTDĐ để bảo đảm thi hành án.
  • - Đối với 01 ĐTDĐ N3 loại bàn phím đã cũ, qua sử dụng, bên trong gắn thẻ sim là tài sản hợp pháp của Nguyễn Duy H không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại H nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • - Đối với 01 xe máy BKS: 88E1 - 33805 nhãn hiệu Honda Wave màu đen xám của Đào Công N. Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy trên là tài sản hợp pháp của ông Đào Văn H4, sinh năm 1979, ở thị trấn H, huyện T (là bố đẻ của N). Ngày 29/01/2024, N mượn ông H4 chiếc xe trên để đi chơi, ông H4 không biết N sử dụng xe vào việc phạm tội nên CQĐT đã trả lại ông H4 chiếc xe máy trên là đúng chủ sở hữu.
  • - Đối với 01 đầu thu nhãn hiệu @hua là tài sản hợp pháp của anh Hoàng Văn T2 nên cần trả lại cho anh T2.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Nguyễn Duy H, Trần Đức A, Đào Công N, Hoàng Đức D và Trần Văn T1 thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố: Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản sự việc, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ và kết quả tranh tụng thẩm tra chứng cứ tại phiên toà, nên có đủ căn cứ để chứng minh và kết luận:

    Khoảng 00 giờ ngày 30/01/2024, tại phòng Vip 1 quán K ở tổ dân phố C, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Duy H khởi xướng, rủ rê Trần Đức A, Đào Công N, Trần Văn T1, Hoàng Đức D tổ chức sử dụng ma túy tại phòng Vip 1, D đứng ra thu tiền của N, Thật được 2.700.000đ rồi đưa số tiền trên cho H, Đức A đi mua được 02 viên ma túy kẹo (MDMA), 01 chỉ ma túy Ketamine về để tổ chức cho mọi người sử dụng, lúc này khoảng 01 giờ ngày 30/01/2024. Tại phòng V3, Đức A bẻ 02 viên ma túy kẹo thành những mảnh nhỏ rồi đưa cho N sử dụng, N đưa cho T1 một mảnh ma túy kẹo sử dụng, H cũng tự lấy 01 mảnh ma túy kẹo sử dụng. Sau đó, Đức A lấy 01 đĩa sứ tại quán, 01 bật lửa ga của D và thẻ ATM của Đức A để xào ma túy Ketamine rồi chia thành các đường nhỏ, Thật đưa tờ tiền Polyme mệnh giá 10.000đ của mình cho D, Đức A cuốn thành ống hút, D và H xé 02 vỏ đầu lọc thuốc lá Thăng L1 đưa cho Đức A để cố định ống hút phục vụ việc sử dụng ma túy của mọi người. Sau đó lần lượt Đức A, H, Đặng Văn V, T1, D, N sử dụng ma túy Ketamine rồi Đức A lại mời V sử dụng ma túy kẹo, đến khoảng 02 giờ ngày 30/01/2024 thì bị cơ quan công an phát hiện, thu giữ số ma túy còn lại là 0,0208g ma túy Ketamine.

    Hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Duy H, Trần Đức A, Đào Công N, Hoàng Đức D và Trần Văn T1 đã phạm vào “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự, tội phạm và hình phạt được quy định như sau:

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:...

    b) Đối với 02 người trở lên;

  3. Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của nhà nước về chất ma túy. Trước tình hình các tội phạm về ma túy mặc dù đã được đấu tranh, xử lý nghiêm khắc nhưng vẫn không giảm mà có chiều hướng tăng lên, gây ra nhiều hậu quả xấu cho xã hội. Từ việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho người khác của các bị cáo là ảnh hưởng tới sức khỏe của các bị cáo và của người khác. Do vậy, cần xử phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo để giáo dục riêng và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

  4. Xét vai trò phạm tội của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Trong vụ án này Nguyễn Duy H là người có vai trò chính, khởi xướng và cùng với Trần Đức A là người cung cấp ma túy MDMA, Ketamine, chuẩn bị công cụ, phương tiện, xào ma túy Ketamine còn Đào Công N, Hoàng Đức D và Trần Văn T1 là đồng phạm giúp sức tích cực góp tiền mua ma túy, chuẩn bị công cụ để tổ chức cho H, Đức A, N, T1, D và Đặng Văn V sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng Vip 1 quán K. Do vậy, khi quyết định hình phạt Hội đồng sẽ xem xét đến vai trò của từng bị cáo trong vụ án.

  5. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử đã đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của tội phạm và nhân thân của bị cáo như: Đối với bị cáo Trần Đức A. Tại bản án số: 90/2024/HS-ST ngày 10/7/2024 Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên xử phạt Trần Đức A 01 năm 03 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nên cần tổng hợp với bản án này và buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

  6. Về nguồn gốc ma tuý Ketamine, MDMA và người bán ma túy cho H, Đức A, quá trình điều tra H, Đức A khai: Khoảng 00 giờ ngày 30/01/2024, H và Đức A đến khu vực cổng chợ Q, thị trấn G, huyện B gặp một người đàn ông lạ mặt khoảng 30 tuổi và mua được của người này 02 viên ma túy MDMA, 01 chỉ ma túy Ketamine với giá 2.000.000đ rồi đem về quán K tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như nêu trên. Đối với người bán ma túy cho H, Đức A, do H và Đức A không biết họ tên, tuổi, địa chỉ, không nhớ đặc điểm nhận dạng của người này nên cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra trong vụ án này và tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

    Đối với người đàn ông lái xe taxi chở Đức A và H đi mua ma tuý, quá trình điều tra Đức A và H khai không biết tên, tuổi, địa chỉ, không nhớ BKS xe taxi của người này, bên cạnh đó H và Đức A không bàn bạc, trao đổi gì với người đàn ông này về việc mua ma túy về để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại quán A66 nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với người đàn ông lái xe taxi là có căn cứ.

    Đối với Đặng Văn V, quá trình điều tra xác định: Trong quá trình hát, do say rượu, mệt và muốn nghỉ hát nên V ra thanh toán tiền phòng hát (phần của V) để nghỉ nhưng do không có xe nên V quay lại phòng Vip 1 ngủ. Sau khi V thanh toán tiền phòng hát rồi quay lại phòng Vip 1 ngủ các đối tượng mới bàn bạc trao đổi về việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng Vip 1 quán A66. Bản thân V không tham gia bàn bạc, trao đổi, không góp tiền, không có hành vi gì giúp sức cho các đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng Vip 1 quán A66 nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với V là có căn cứ. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với V về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

    Đối với Trần Văn D1, quá trình điều tra xác định: Sau khi vào phòng Vip 1 quán A66 hát được khoảng 15 phút thì D1 về trước không biết các đối tượng bàn bạc trao đổi về việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng Vip 1 quán A66, bản thân D1 không có hành vi gì giúp sức cho các đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng Vip 1 quán A66 nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với D1 là có căn cứ.

    Đối với Hoàng Văn T2 là chủ quán A66 và Tạ Quý N2 là quản lý quán K, quá trình điều tra xác định T2, N2 không biết, không bàn bạc, trao đổi gì, không có hành vi gì giúp sức cho các đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng Vip 1 quán A66 nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với T2, N2 là có căn cứ. Ngày 30/8/2024, Chủ tịch UBND huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T2.

    Đối với 04 nhân viên vào phục vụ phòng Vip 1 vào buổi tối ngày 29/01/2024, quá trình điều tra xác định thời điểm các đối tượng bàn bạc, trao đổi về việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng Vip 1 quán A66 thì các nhân viên trên đã không còn phục vụ tại phòng Vip 1 nên những người này không biết các đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng Vip 1. Quá trình điều tra xác định những nhân viên trên Trường thuê của chị Trần Thị S, sinh năm 1990, HKTT: thị trấn H, huyện T, sau khi sự việc xảy ra các nhân viên này đã bỏ đi nơi khác làm, chị S không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của 04 nữ nhân viên trên nên CQĐT không làm việc được với những người này.

  7. Vật chứng vụ án:

    • - Đối với 01 chiếc đĩa sứ hình tròn, màu trắng, 01 thẻ ATM, trên bề mặt thẻ có in chữ V4 màu xanh, có số 9704368622013118018 tên TRAN DUC ANH, quá trình điều tra xác định là tài sản của quán A66 và của Đức A là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
    • - Đối với 01 bình khí và 15 vỏ bóng cao su không có giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.
    • - Đối với 01 ống hút bằng tờ tiền Polyme mệnh giá 10.000đ được cố định bằng 02 vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng là công cụ, phương tiện phạm tội cần tịch thu tiêu hủy đối với 02 vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng; tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với tờ tiền Polyme mệnh giá 10.000đ.
    • - Đối với số ma túy Ketamine hoàn lại sau giám định M2 = 0,000g cùng toàn bộ bao gói là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
    • - Đối với 02 túi nilon của mẫu M3 cùng toàn bộ bao gói là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
    • - 02 chiếc bật lửa ga; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng là của Hoàng Đức D là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
    • - Đối với 01 ví giả da màu nâu sẫm và 01 ĐTDĐ nhãn hiệu OPPO màu xanh, tím bên trong gắn thẻ sim là tài sản hợp pháp của Đặng Văn V không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho V.
    • - Đối với 01 ví giả da màu nâu sẫm, 01 ĐTDĐ Iphone 6 màu xám, bên trong gắn thẻ sim là tài sản hợp pháp của Đào Công N không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho N chiếc ví giả da màu nâu sẫm, nhưng tiếp tục tạm giữ đối với chiếc ĐTDĐ để bảo đảm thi hành án.
    • - Đối với 01 ĐTDĐ N3 loại bàn phím đã cũ, qua sử dụng, bên trong gắn thẻ sim là tài sản hợp pháp của Nguyễn Duy H không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại H nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
    • - Đối với 01 đầu thu nhãn hiệu @hua là tài sản hợp pháp của anh Hoàng Văn T2 nên cần trả lại cho anh T2.
    • - Đối với 01 xe máy BKS: 88E1 - 33805 nhãn hiệu Honda Wave màu đen xám của Đào Công N. Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy trên là tài sản hợp pháp của ông Đào Văn H4, sinh năm 1979, ở thị trấn H, huyện T (là bố đẻ của N). Ngày 29/01/2024, N mượn ông H4 chiếc xe trên để đi chơi, ông H4 không biết N sử dụng xe vào việc phạm tội nên CQĐT đã trả lại ông H4 chiếc xe máy trên nên Tòa án không xem xét.
  8. Về án phí các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Duy H, Trần Đức A, Đào Công N, Hoàng Đức D và Trần Văn T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy H 08 (Tám) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 08/7/2024.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 56 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Đức A 08 (Tám) năm 03 (Ba) tháng tù, tổng hợp với bản án số 90/2024/HS-ST ngày 10/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 09 (Chín) năm 06 (S1) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 18/3/2024 theo Bản án số 90/2024/HS-ST ngày 10/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Đào Công N 07 (Bảy) năm 06 (S1) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 28/5/2024.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Hoàng Đức D 07 (Bảy) năm 06 (S1) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 28/5/2024.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Văn T1 07 (Bảy) năm 06 (S1) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 28/5/2024.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 bao gói niêm phong hoàn trả sau giám định mẫu M2 = 0,000g Ketamine; 02 túi nilon của mẫu M3 cùng toàn bộ bao gói; 01 chiếc đĩa sứ hình tròn, màu trắng; 01 thẻ ATM, trên bề mặt thẻ có in chữ V4 màu xanh, có số 9704368622013118018 tên TRAN DUC ANH; 02 vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng; 02 chiếc bật lửa ga; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 bình khí vỏ bằng kim loại màu xanh đã qua sử dụng; 15 vỏ quả bóng màu trắng bằng cao su đã qua sử dụng.

Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước đối với tờ tiền Polyme mệnh giá 10.000₫.

Trả lại cho Đặng Văn V 01 ví giả da màu nâu sẫm và 01 ĐTDĐ nhãn hiệu OPPO màu xanh, tím bên trong gắn thẻ sim.

Trả lại cho Đào Công N 01 ví giả da màu nâu sẫm, 01 ĐTDĐ Iphone 6 màu xám, bên trong gắn thẻ sim nhưng tiếp tục tạm giữ đối với chiếc ĐTDĐ để bảo đảm thi hành án.

Trả lại cho Nguyễn Duy H 01 ĐTDĐ Nokia loại bàn phím đã cũ, qua sử dụng, bên trong gắn thẻ sim nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Trả lại cho anh Hoàng Văn T2 01 đầu thu nhãn hiệu @hua (Vật chứng trên theo biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 28 tháng 10 năm 2024 giữa Công an huyện T với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Đảo).

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Duy H, Trần Đức A, Đào Công N, Hoàng Đức D và Trần Văn T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp trên để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận

  • - TAND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - VKSND huyện Tam Đảo;
  • - Công an huyện Tam Đảo;
  • - Cơ quan THA hình sự CA huyện Tam Đảo;
  • - Trại giam Vĩnh Quang;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Tam Đảo;
  • - Các bị cáo.
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ + Văn phòng.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Trần Văn Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 94/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 94/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Duy H phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger