Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÍ LINH

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2024/HS - ST

Ngày: 30-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Thu Hương

Các hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Văn Thành

Bà Vũ Thị Linh

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Mai Hương - Th ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Lệ - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 86/2024/HSST ngày 11 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/QĐXXST - HS ngày 18 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Phạm Bá C, sinh năm 1981 tại thành phố C, tỉnh Hải Dương; nơi ĐKHKT và nơi ở hiện nay: Khu dân cư M, phường Đ, thành phố C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Quản đốc công trường cơ điện vận tải Công ty CP K- Chi nhánh H4; trình độ văn hóa(học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Bị cáo là đảng viên Đ, bị đình chỉ sinh hoạt đảng ngày 16/9/2024 ; con ông: Phạm Bá V và con bà Nguyễn Thị G; có vợ : Đặng Thị Mai H, bị cáo có 03, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

  2. Bùi Văn X, sinh năm 1989 tại thành phố C, tỉnh Hải Dương; nơi ĐKHKT và nơi ở hiện nay: Khu dân cư Đ, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Phó quản đốc công trường cơ điện vận tải Công ty CP K- Chi nhánh H4; trình độ văn hóa(học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn T và con bà Vũ Thị H1; có vợ: Bùi Thị M, bị cáo có 02 con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

  3. Bùi Xuân T1, sinh năm 1988 tại huyện H, tỉnh Thái Bình; nơi ĐKHKT và nơi ở hiện nay: Thôn T, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Tổ trưởng công trường cơ điện vận tải Công ty CP K- Chi nhánh H4; trình độ văn hóa(học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Xuân C1 và con bà Nguyễn Thị Y; có vợ: Nguyễn Thị H2, bị cáo có 02 con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Đinh Hữu L, sinh năm 1980. Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh(đã chết);

*Những người đại diện theo pháp luật của bị hại:

  1. Ông Đinh Văn S, sinh năm 1957
  2. Bà Vũ Thị N, sinh năm 1957
  3. Chị Đinh Thị Mai L1, sinh năm 1985
  4. Cháu Đinh Vũ Khánh L2;
  5. Cháu Đinh Hải N1;
  6. Cháu Đinh Hải L3;

Đều có địa chỉ: Thôn Đ, xã T, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh;

Người giám hộ cho cháu L2, N1, L3: Chị Đinh Thị Mai L1.

Người được ủy quyền của những người đại diện theo pháp luật của bị hại: Anh Đinh Bá D, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần K- Chi nhánh C4. Địa chỉ: Khu dân cư T, phường A, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Minh T2- Giám đốc. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty Cổ phần K chi nhánh H4 có địa chỉ: KDC T, phường A, thành phố C, tỉnh Hải Dương (Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh số 5400259729-001, người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Minh T2, sinh năm 1981, trú tại: Tổ D, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh). Ngày 28/3/2024 Công ty Cổ phần K chi nhánh H4 ký hợp đồng lao động với anh Đinh Hữu L, sinh năm 1980, trú tại: Thôn Đ, xã T, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, làm Công nhân kĩ thuật cơ khí - phụ cơ điện. Thời gian trước và trong khi làm việc tại công ty A L chưa được cơ quan có thẩm quyền tập huấn về an toàn lao động và cấp thẻ an toàn lao động theo quy định. Theo quy chế của công ty Q Phạm Bá C, Quản đốc công trường cơ điện vận tải có trách nhiệm trực tiếp phân công công việc cho anh L; Bùi Văn X, phó quản đốc là người giúp việc cho quản đốc trong việc phân công công việc, theo dõi, đôn đốc anh L trong quá trình làm việc; Tổ trưởng là Bùi Xuân T1, là người được CXuân phân C2 kèm cặp, sắp xếp công việc cho anh L.

Ngày 08/4/2024 Công ty Cổ phần K chi nhánh H4 ban hành Lệnh sản xuất số: 167/2024 về việc sửa chữa thiết bị gia công thùng phun bê tông (bồn phun bê tông) và giao cho Công trường cơ điện vận tải thực hiện việc gia công. Căn cứ lệnh sản xuất trên, ngày 09 và 10/4/2024 Phạm Bá C đã giao cho tổ sửa chữa cơ khí của công trường gồm: Bùi Xuân T1; anh Phạm Văn C3, sinh năm 1990, trú tại: Thôn B, xã B, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; anh Vũ Đức H3, sinh năm 1983 trú tại: Thôn C, xã B, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh (đều đã được cơ quan có thẩm quyền tập huấn về an toàn lao động và cấp thẻ an toàn lao động) và anh Đinh Hữu L thực hiện việc hàn gia công bình phun bê tông. Sau khi nhận Lệnh sản xuất, T1 liên hệ bộ phận máy xúc cẩu 01 thân bồn chứa nước vôi bằng kim loại ở khu vực lò hơi về xưởng cơ khí MB+5 của công trường cơ điện vận tải để gia công làm thân thùng. Sau đó T1 giao cho anh L vệ sinh thân, sơn mặt bên trong của thân thùng, tiến hành cắt tôn để làm nắp thùng, hàn điện để gia công van, phễu, ống dẫn nước trên nắp, rồi hàn cố định bộ phận nắp vào thân thùng. Anh L thực hiện công việc hàn gia công thùng phun bê tông trong ngày 09,10/4/2024 rồi chuyển sang làm công việc khác.

Đến ngày 16/4/2024, Phạm Bá CBùi Văn X tiếp tục phân công anh L cùng các anh C3, H3T1 sửa chữa cơ khí tiến hành hàn gia công hoàn thiện thùng phun bê tông nói trên (theo lệnh sản xuất anh L được phân công phụ vận hành máy hàn, ôxi, máy mài, máy cắt phục vụ sửa chữa gia công cột kèo nhà lấy mẫu trạm cân, chân cột đỡ băng tải cụm sàng, sửa chữa goong 3t. hàn gia công bồn phun bê tông). Sau khi nhận lệnh sản xuất, T1 phân công anh L một mình thực hiện công việc hàn hoàn thiện thùng phun bê tông tại khu vực trước cửa xưởng cơ khí M1+5, Công trường cơ điện vận tải công ty CP K chi nhánh H4 còn T1, anh C3, anh H3 làm khu vực phía bên trong xưởng. Đến khoảng 14 giờ 20 cùng ngày, trong quá trình hàn hồ quang điện để hoàn thiện thùng phun bê tông, anh L đã không mở van khóa để thông gió ngăn ngừa tạo ra tia lửa gây cháy hỗn hợp hơi dung môi sơn có bên trong thùng phun bê tông và ô xy không khí, đã vi phạm quy định tại: Mục 2.1.4 và 2.1.5 “Khi tiến hành công việc hàn điện tại những nơi có nguy cơ cháy, nổ phải tuân theo các quy định an toàn, phòng chống cháy nổ; Khi tiến hành công việc hàn điện trong các buồng, thùng, khoang, bể, phải thực hiện thông gió, cử người theo dõi và phải có biện pháp an toàn cụ thể và được người có trách nhiệm duyệt, cho phép, cấm tiến hành hàn ở các hầm, thùng, khoang, bể đang có áp suất hoặc đang chứa chất dễ cháy nổ” của QCVN 03:2011/BLĐTBXH ( Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về an toàn lao động đối với máy hàn điện và công việc hàn điện, ban hành theo thông tư số 20/2011/TT-BLĐTBXH ngày 29/7/2011 của Bộ L4) và quy định chi tiết tại: Quy trình vận hành sửa chữa bảo dưỡng máy hàn điện của công ty cổ phần K (ban hành kèm theo quyết định số: 95/2024 ngày 02/3/2024 của Công ty cổ phần K chi nhánh H4): “Mục 4. Một số yêu cầu, tiêu chuẩn khi hàn điện: cấm tiến hành công việc sơn trước khi hàn trong các thùng kín, bể kín, kho kín; cấm hàn các bình chứa, bồn chứa, thùng cũi kín... phải mở các van khóa, đảm bảo thông gió, có mặt thoáng mới được phép làm việc; trước khi hàn các thùng đã từng chứa chất dễ cháy, phải tiến hành rửa sạch chúng bằng dung dịch, sau đó rửa nước nóng và sấy khô”. Dẫn đến trong quá trình hàn trên nắp của thùng phun bê tông đã tạo ra tia lửa gây cháy hỗn hợp dung môi sơn có bên trong thùng (hơi dung môi sơn bị rò rỉ tại vị trí giáp nắp bồn và đường ống dẫn khí) và oxy không khí gây cháy, nổ hỗn hợp khí dẫn đến nổ. Khi nổ, nắp thùng đã đập vào người, mặt, đầu anh L dẫn đến anh L bị chấn thương sọ não và chết trên đường đi cấp cứu. Quá trình anh L một mình tiến hành hàn điện không có sự kèm cặp của T1, CX đều biết việc này nhưng tin tưởng tay nghề của anh L nên đồng ý để anh L thực hiện công việc.

Bản kết luận giám định tử thi số 99 ngày 25/4/2024 của Phòng K1, Công an tỉnh H về anh Đinh Hữu L thể hiện:

Các kết quả chính: Kết mạc mắt nhợt, bầm tụ máu 2 hốc mắt. Sây sát da đi từ vị trí vùng trán phải xuống chân tóc mai phải, dấu hiệu lạo xạo xương hộp sọ, vỡ xương hộp sọ phức tạp. Gãy xương gò mà 2 bên, gãy xương hàm dưới bên phải tại khe răng số 1,2.

Kết luận: Nguyên nhân tử vong: chấn thương sọ não (Vỡ xương hộp sọ phức tạp).

Bản kết luận giám định số 3026/KL-KTHS ngày 29/5/2024 của V1, Bộ C5 kết luận về nguyên nhân nổ của thùng phun bê tông kết luận:

Nguyên nhân nổ: Do quá trình hàn kim loại bằng hồ quang điện trên nắp của thùng phun bê tông đã tạo ra tia lửa gây cháy hỗn hợp dung môi sơn có bên trong thùng phun bê tông (hơi dung môi sơn bị rò rỉ tại vị trí giáp nắp bình và đường ống dẫn khí) và oxy không khí gây cháy, nổ hỗn hợp khí dẫn đến vụ nổ nói trên.

Bản kết luận giám định số 3961/KL-KTHS ngày 16/07/2024 của V1 Bộ C5 kết luận về tệp video gửi giám định kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tệp video mẫu cần giám định.

Tại Cáo trạng số 95/CT-VKSCL ngày 09 tháng 9 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã truy tố Phạm Bá C, Bùi Văn X, Bùi Xuân T1 về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 295 BLHS.

Tại phiên toà:

Các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện theo pháp luật của bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm khoản tiền nào khác, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện theo pháp luật của Công ty cổ phần K- Chi nhánh H4 không yêu cầu gì về dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Tòa án:

  • Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 295; các điểm b, s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 của BLHS đối với bị cáo C.
  • Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 295; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 của BLHS đối với bị cáo X, bị cáo T1.
  • Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Luật phí, lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Bá C, Bùi Văn X, Bùi Xuân T1 phạm tội "Vi phạm quy định về an toàn lao động".

Xử phạt bị cáo Phạm Bá C từ 36.000.0000đồng đến 39.000.000đồng sung công quỹ Nhà nước.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn X từ 33.000.000đồng đến 36.000.000đồng sung công quỹ Nhà nước.

Xử phạt bị cáo Bùi Xuân T1 từ 30.000.000đồng đến 33.000.000đồng sung công quỹ Nhà nước.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Bá C, Bùi Văn X, Bùi Xuân T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, VKSND thành phố Chí Linh, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo Phạm Bá C, Bùi Văn X, Bùi Xuân T1 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của cácvbị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với hiện trường vụ án và lời khai của đại diện theo pháp luật của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng về thời gian, địa điểm, hậu quả các bị cáo gây ra. Tòa án có đủ cơ sở kết luận:

Chiều ngày 16/4/2024, tại xưởng cơ khí M1+5 Công trường cơ điện vận tải công ty CP K chi nhánh H4. Phạm Bá C là Quản đốc, Bùi Văn X là phó quản đốc, Bùi Xuân T1 là tổ trưởng đã phân công anh Đinh Hữu L là công nhân kỹ thuật cơ khí, phụ cơ điện thuộc công trường Cơ điện vận tải (chưa được tập huấn về an toàn lao động và cấp thẻ an toàn lao động) trực tiếp sử dụng máy hàn hoàn thiện thùng phun bê tông. Quá trình hàn hồ quang điện để hoàn thiện thùng phun, anh L đã không mở van khóa để thông gió dẫn đến nổ thùng phun bê tông, nắp thùng bật ra và đập vào người, mặt, đầu anh L dẫn đến anh L bị chấn thương sọ não và chết trên đường đi cấp cứu.

Nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn lao động trên là do anh Đinh Hữu L thực hiện công việc hàn kim loại (là công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động) để hàn gia công thùng phun bê tông khi chưa được cơ quan chức năng tập huấn về an toàn, vệ sinh lao động và cấp thẻ an toàn lao động nên khi thực hiện việc hàn, gia công thùng phun bê tông (là thùng kín) anh L đã không mở van khóa để thông gió ngăn ngừa tạo ra tia lửa gây cháy hỗn hợp hơi dung môi sơn có bên trong bình phun và ô xy không khí gây cháy nổ hỗn hợp, vi phạm quy định tại: Mục 2.1.4 và 2.1.5 của QCVN 03:2011/BLĐTBXH (Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về an toàn lao động đối với máy hàn điện và công việc hàn điện, ban hành theo thông tư số 20/2011/TT-BLĐTBXH ngày 29/7/2011 của Bộ L4) và quy định tại Quy trình vận hành sửa chữa bảo dưỡng máy hàn điện của Công ty cổ phần K ban hành kèm theo quyết định số: 95/2024 ngày 02/3/2024 của Công ty cổ phần K chi nhánh H4 dẫn đến trong quá trình hàn trên nắp của bình phun đã tạo ra tia lửa gây cháy hỗn hợp dung môi sơn có bên trong thùng (hơi dung môi sơn bị rò rỉ tại vị trí giáp nắp bình và đường ống dẫn khí) và oxy không khí gây cháy, nổ hỗn hợp khí dẫn đến nổ thùng.

Phạm Bá C, Bùi Văn XBùi Xuân T1 biết anh Đinh Hữu L chưa được tập huấn về an toàn, vệ sinh lao động, chưa được cấp thẻ an toàn lao động. Bùi Xuân T1 được C, Xuân phân C2 theo dõi kèm cặp anh L trong quá trình lao động, do tin tưởng tay nghề của anh L nên T1 đã phân công anh L thực hiện công việc hàn điện (là công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động) không có sự kèm cặp, hướng dẫn; C, X biết việc anh L làm trực tiếp hàn điện nhưng vẫn đồng ý để anh L thực hiên công việc đã vi phạm khoản 2, điều 14 Luật An toàn, vệ sinh lao động “Người sử dụng lao động tổ chức huấn luyện cho người lao động làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động và cấp thẻ an toàn lao động trước khi bố trí làm công việc này”, gây hậu quả làm một người chết. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh truy tố bị cáo Phạm Bá C, Bùi Văn X, Bùi Xuân T1 về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 295 BLHS đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm quy định về an toàn lao động được pháp luật hình sự quy định để bảo vệ tính mạng, sức khỏe cho người lao động. Các bị cáo đều nhận thức được hành vi sử dụng người lao động trong các công việc buộc phải đảm bảo an toàn, phải được cơ quan có thẩm quyền tập huấn về an toàn lao động và cấp thẻ an toàn lao động nhưng do chủ quan nên bị hại L chưa được trang bị đầy đủ phương tiện, công cụ lao động cấp thiết bảo đảm an toàn lao động, chưa được tập huấn và cấp thẻ an toàn lao động vẫn cho tiến hành thực hiện công việc hàn gia công thùng phun bê tông một mình là vi phạm quy định về an toàn lao động, gây hậu quả anh L tử vong. Trong vụ án, các bị cáo đồng phạm với nhau, hành vi của người này thúc đẩy người kia phạm tội. Trong đó, bị cáo C là quản đốc nên giữ vai trò chính, bị cáo X là phó quản đốc giữ vai trò thứ hai, bị cáo T1 là tổ trưởng giữ vai trò thứ ba. Bị hại L trực tiếp thực hiện công việc hàn điện thùng phun bê tông đã không không mở van khóa để đảm bảo thông gió dẫn đến nổ hỗn hợp khí dẫn, nắp thùng đập vào người, mặt, đầu chấn thương sọ não nên cũng có lỗi một phần khi hậu quả xảy ra.

Do đó, khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cân nhắc các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ sau: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo C, X, T1 đều là người có nhân thân tốt và gia đình đều chấp hành tốt chủ trương, pháp luật của Nhà nước. Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi của mình. Các bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại nên hậu quả được khắc phục phần nào. Gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo Bùi Văn X, Bùi Xuân T1 đều có đóng góp vào quỹ ủng hộ hội viên chữ thập đỏ có hoàn cảnh khó khăn, ốm đau bệnh tật trên địa bàn phường A; bị cáo C1 có bố đẻ là bệnh binh hạng hai.

Vì thế, các bị cáo C, X, T1 đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản và khoản 2 Điều 51 BLHS. Trong quá trình công tác, bị cáo C là đảng viên Đ sinh hoạt tại chi bộ KDC M, phường Đ, thành phố C, được Công ty cổ phần T3 tặng giấy khen các năm 2007, 2010; Giám đốc công ty T4 tặng giấy khen năm 2014, 2016, 2017; Tổng giám đốc công ty Đ1 tặng Bằng khen năm 2014, tặng danh hiệu chiến sỹ thi đua các năm 2014, 2015, 2016 nên bị cáo C được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 BLHS.

Hội đồng xét xử xét thấy không cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội vẫn có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung nên cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thành phố C tại phiên tòa.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo C, X, T1 đã bồi thường cho gia đình anh Đinh Hữu L số tiền 422.850.000đồng, đại diện gia đình bị hại đã nhận đầy đủ, không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Đại diện Công ty cổ phần K- Chi nhánh H4 không có đề nghị gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, là lao động chính trong gia đình. Ngoài công việc các bị cáo đang làm, các bị cáo không còn công việc nào khác nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Về vật chứng: Không có, không đặt ra xem xét giải quyết.

[7] Đối với Công ty cổ phần K chi nhánh H4 có quy chế hoạt động, phân công nhiệm vụ cụ thể theo quy định, do vậy Công ty không có lỗi liên quan đến việc anh L chết, tuy nhiên Công ty còn một số thiếu sót, vi phạm trong việc tổ chức tập huấn về an toàn, vệ sinh lao động cho công nhân và kiểm tra, giám sát, đánh giá nguy cơ rủi ro, tiểm ẩn nguy hiểm trong quá trình lao động. Đối với nội dung này Cơ quan CSĐT Công an thành phố C đã có văn bản kiến nghị Thanh tra sở Lao động Thương binh và xã hội tỉnh H xử lý theo quy định.

[8] Về án phí: Bị cáo C, X, T1 bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 295; các điểm b, s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 của BLHS đối với bị cáo C.

    Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 295; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 của BLHS đối với bị cáo X, T1.

    Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Luật phí, lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  2. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Bá C, Bùi Văn X, Bùi Xuân T1 phạm tội "Vi phạm quy định về an toàn lao động".

  3. Xử phạt bị cáo Phạm Bá C 34.000.000đồng(Ba mươi tư triệu đồng) sung công quỹ Nhà nước.

  4. Xử phạt bị cáo Bùi Văn X 32.000.000đồng(Ba mươi hai triệu đồng) sung công quỹ Nhà nước.

  5. Xử phạt bị cáo Bùi Xuân T1 30.000.000đồng(Ba mươi triệu đồng chẵn) sung công quỹ Nhà nước.

  6. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.

  7. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

  8. Về xử lý vật chứng: Không đặt ra giải quyết.

  9. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Bá C, Bùi Văn X, Bùi Xuân T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị hại có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Chí Linh;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - CQĐT Công an thành phố Chí Linh;
  • - Công an thành phố Chí Linh;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ- Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Cơ quan THA hình sự - Công an thành phố Chí Linh;
  • - Chi cục THADS thành phố Chí Linh;
  • - Sở tư pháp thành phố Hà Nội;
  • - Bị cáo;
  • - Người đại diện theo pháp luật của bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Thành ủy Chí Linh, tỉnh Hải Dương;
  • - UBND phường Đồng Lạc, thành phố Chí Linh;
  • - UBND xã Đoan Hùng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Chu Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 94/2024/HS - ST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG về vi phạm quy định về an toàn lao động (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 94/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về an toàn lao động (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Bá C và đồng bọn phạm tội Vi phạm quy định an toàn lao động
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger