Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH PHỤ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 94/2024/HS-ST
Ngày 26-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Doanh

Các Hội thẩm nhân dân.

  • + Bà Vũ Thị Ngân;
  • + Bà Nguyễn Thị Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gien Ny - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2024/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Hà Thị N, sinh ngày 06/10/1979 tại xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hà Văn Đ (đã chết) và bà: Đoàn Thị K, sinh năm 1955; chồng: Nguyễn Hồng V, sinh năm 1981; Con: Có 04 con, lớn sinh năm 2010 và nhỏ sinh năm 2018;

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/7/2024 tại xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

(Bị cáo có mặt tại phiên toà).

* Bị hại:

- Ông Đặng Ngọc T, sinh năm 1943 (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  • + Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1949 (là vợ ông T)
  • + Chị Đặng Thị N1, sinh năm 1982 (là con đẻ)
  • + Anh Đặng Văn N2, sinh năm 1985 (là con đẻ)
  • + Anh Đặng Văn C, sinh năm 1978 (là con đẻ)

Đều trú tại thôn Q, xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

Người đại diện ủy quyền của đại diện bị hại tham gia tố tụng: Anh Đặng Văn C, sinh năm 1978. Nơi cư trú: thôn Q, xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình (đều vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Chị Phạm Thị T1, sinh năm 1964. Nơi cư trú: thôn Q, xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình (vắng mặt)
  • - Anh Hà Quang T2, sinh năm 1993. Nơi cư trú: thôn C, xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình (có mặt)

* Người làm chứng:

  • - Anh Nguyễn Văn N3, sinh năm 1975 (vắng mặt)
  • - Anh Hoàng Ngọc B, sinh năm 1981 (vắng mặt)
  • - Chị Vũ Thị Kiều N4, sinh năm 2001 (vắng mặt)
  • - Chị Đỗ Thị M1, sinh năm 1986 (vắng mặt)

Đều trú tại thôn Q, xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hà Thị N, sinh ngày 06/10/1979, cư trú: thôn C, xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình, không có giấy phép lái xe mô tô. Trưa ngày 25/3/2024, N điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Honda, số loại WAVE RSXC, màu sơn đen đỏ xám, dung tích 109 cm³, biển số 17B5-067.18, từ nhà bố mẹ đẻ ở C, xã Đ, huyện Q, theo đường ĐT455, hướng xã T, huyện T (xã T) đi xã A, huyện Q, để đến thôn Q, xã Đ, mua vật dụng cần thiết để lo hậu sự cho bố đẻ là ông Hà Văn Đ. Khoảng 11 giờ 10 phút, xe Ngạn điều khiển đi tới gần ngã ba giao nhau giữa đường ưu tiên ĐT455 với đường không ưu tiên đi thôn Q, thuộc thôn Q, xã Đ, huyện Q. Đường ĐT 455 thẳng rải nhựa asphanlt tương đối bằng phẳng, rộng 08 mét, chia thành hai chiều đi, chiều xã T đi xã A và chiều ngược lại, mỗi chiều đường rộng 04 mét, phân chia bởi vạch sơn vàng đơn, kẻ nét đứt (loại vạch rộng 0,15 mét) dọc tim đường. Giáp mép đường bên phải là cống thoát nước rộng 0,9 mét đậy tấm đan bê tông cao bằng mặt đường, tiếp đến khu vực dân cư. Trên lề đường có cột biển báo giao nhau với đường không ưu tiên (W.207e), được chỉ dẫn bằng biển phụ phạm vi tác dụng 350 mét. Đường đi thôn Q mặt đường bê tộng rộng 04 mét, có độ mở ra đường ĐT455 rộng 7,4 mét (tâm ký hiệu O). Lúc này trời không mưa, mặt đường khô, ít phương tiện tham gia giao thông. Ngạn không sử dụng rượu bia, ma túy hoặc chất kích thích, có đội mũ bảo hiểm, điều khiển xe đi với tốc độ khoảng 25 km/h, ở chiều đường bên phải, cách mép đường khoảng 01 mét. Đang đi, N quan sát thấy phía trước, cách khoảng 20 mét, xe đạp mi ni, màu sơn xanh sau biết do ông Đặng Ngọc T, sinh năm 1943 (81 tuổi), cư trú: thôn Q, xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình điều khiển đi ở chiều đường bên trái, cách vạch kẻ tim đường khoảng 01 mét, hướng xã A đi xã T (ngược chiều) đến. Cho rằng ông T đi thẳng, N giữ nguyên tốc độ, chiều

đường. Đến giữa ngã ba, khoảng cách giữa hai xe khoảng 03 mét, ông T điều khiển xe chuyển hướng (rẽ trái) vào đường đi thôn Q, không có tính hiệu báo trước. Thấy vậy, N bóp phanh tay để giảm tốc độ tránh va chạm. Tuy nhiên, do xe đi với tốc độ nhanh, khoảng cách gần nên mặt ngoài bánh lốp, chắn bùn, đầu ngoài giảm sóc, cánh yếm, cụm đèn xi nhan bên trái đầu xe mô tô đã va chạm với cụm bàn đạp, trục thân xe, dây phanh bánh sau bên phải xe đạp và chân, tay trái ông T, ở chiều đường bên phải, hướng xã T đi xã A. Sau va chạm, xe đạp đổ trái trượt rê về phía xã A khoảng 04 mét, đầu xe cách mép đường khoảng 0,5 mét; ông T ngã theo xe va chạm với mặt đường, nằm bất tỉnh, đầu và chân chảy máu, cách mép đường khoảng 1,3 mét. Xe mô tô mất lái đi về phía trước khoảng 05 mét va vào bên phải chị Phạm Thị T1, sinh năm 1964, cư trú: thôn Q, xã Đ, huyện Q, đang đứng mua hàng ở mép đường. Chị T1 ngã tại chỗ, xe mô tô nghiêng phải dựa vào mặt bàn bán hàng của chị Đỗ Thị M1, sinh năm 1986, cư trú: thôn Q, xã Đ, huyện Q, ở lề đường bên phải chiều xã T đi xã A. Ngạn ngã nằm về phía bên trái xe mô tô, chân phải dắt ở bụng xe, cách vị trí ông T nằm khoảng 01 mét về phía đi xã A. Ông T, chị T1 và N được anh Đặng Văn C1, sinh năm 1978, cư trú: thôn Q, xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình (con trai ông T) và người dân đưa đến Bệnh viện Đ1, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Chị T1 và N bị chấn thương nhẹ ở mặt, bầm dập chân tay đến chiều cùng ngày xuất viện; ông T chấn thương đầu mặt, sọ não kín, xuất huyết nhu mô não, xuất huyết dưới nhện, suy hô hấp, viêm phổi, xuất huyết nội sọ, nhồi máu não/tăng huyết áp được chuyển Bệnh viện đa khoa tỉnh T, Bệnh viện B1, điều trị lên tục đến 15 giờ ngày 03/4/2024 tử vong tại gia đình; xe mô tô hư hỏng, thiệt hại trị giá 2.067.333 đồng.

Cáo trạng số 96/CT-VKSQP ngày 10/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Hà Thị N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

- Tại phiên tòa, bị cáo Hà Thị N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như đã khai trong giai đoạn điều tra, truy tố và đúng như nội dung mô tả trong bản Cáo trạng. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hà Quang T2 xác nhận anh là chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển số 17B5-067.18, trưa ngày 25/3/2024 gia đình mải lo hậu sự cho bố đẻ nên anh để chiếc xe ở sân nhà anh, chìa khoá xe cắm ở ổ khoá điện, bị cáo N tự ý lấy chiếc xe mô tô nói trên làm phương tiện đi lại anh không biết, chiếc xe mô tô hư hỏng 2.067.333 đồng, anh đã nhận lại chiếc xe, không yêu cầu bị cáo N phải bồi thường cho anh số tiền trên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Hà Thị N và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hà Thị N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 54; Điều 38; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Q giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, không áp

dụng hình phạt bổ sung. Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật.

- Trong phần tranh luận, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhất trí với bản luận tội và không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo Hà Thị N nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy:

[2.1] Lời khai nhận tội của bị cáo Hà Thị N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra có trong hồ sơ vụ án (bút lúc số 184 - 196); phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường (kèm bản ảnh) xác định: vị trí xảy ra vụ tai nạn giao thông ở chiều đường bên phải, hướng xã T đi xã A, ngã ba giao nhau giữa đường ưu tiên ĐT455 với đường không ưu tiên đi thôn Q, thuộc thôn Q, xã Đ, huyện Q (bút lúc số 17-19; 32-36); Biên bản khám nghiệm các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập hồi 14 giờ ngày 05/4/2024 tại Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình xác định mặt ngoài bánh lốp, chắn bùn, đầu ngoài giảm sóc, cánh yếm, cụm đèn xi nhan bên trái đầu xe mô tô biển số 17B5-067.18 bị cáo Hà Thị N điều khiển va chạm với cụm bàn đạp, trục thân xe, dây phanh bánh sau bên phải xe đạp mi ni màu xanh và chân, tay trái bị hại Đặng Ngọc T. Sau va chạm, xe đạp đổ trái trượt trên mặt đường; xe mô tô mất lái đi về phía trước va vào bên phải chị Phạm Thị T1 đứng mua hàng ở mép đường rồi nghiêng phải dựa vào mặt bàn bán hàng của chị Đỗ Thị M1 ở lề đường bên phải chiều xã T đi xã A (bút lục số 101 - 104; 280 - 292); Giấy chứng nhận thương tích của Bệnh viện Đ1, huyện Q, tỉnh Thái Bình, thể hiện: “Ông Đặng Ngọc T, sinh ngày 01/01/1993, cư trú: xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình, vào viện lúc 11 giờ 38 phút, ra viện lúc 12 giờ 12 phút ngày 25/3/2024. Tình trạng thương tích lúc vào viện: Bệnh nhân tỉnh, tiếp súc tốt, huyết áp 160/100mmHg, vết thương đầu, trán trái, cung mày phải, vết thương cổ chân phải, chấn thương xuất huyết nhu mô não thùy trán bán cầu não phải, xuất huyết dưới nhện thùy đỉnh bán cầu não trái” (bút lục số 231 - 279); Giấy chứng nhận thương tích ban đầu của Bệnh viện đa khoa tỉnh T; Bệnh án nội khoa của Bệnh viện đa khoa tỉnh T: “Ông Đặng Ngọc T vào viện lúc 12 giờ 58 phút, ra viện lúc 13 giờ 40 phút ngày 25/3/2024. Tình trạng thương tích lúc vào viện: Bệnh nhân tỉnh, tiếp súc

chậm, Glasgow 12đ, da niêm mạc kém hồng, đồng tử 2 bên 2,5mm, pxas (+); đau đầu nhiều, xưng đau vùng thái dương trái, trầy xước vùng đỉnh thái dương phải, trấy xước vùng trên cung lông mày phải, trầy xước khửu tay trái, ngón 1 bàn chân trái, vết thương hở mắt cá trong bàn chân phải, tim đều, phổi thông khí đều, bụng mềm, ngực vững, tứ chi không biến dạng. Cận lâm sàng chảy máu dưới nhện, chưa loại trừ vỡ dị dạng mạch máu não. Xét nghiệm Ethanol (cồn) dưới ngưỡng phát hiện”. Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 167/KLTTCT-TTPY, ngày 10/5/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh T xác định: Tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với Đặng Ngọc T tại thời điểm giám định là 89%. Do hiện tại bệnh nhân còn đang nằm điều trị tại khoa cấp cứu nên chưa đánh giá được hết các tổn thương (bút lục số 72 - 74); Biên bản khám nghiệm tử thi do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập hồi 16 giờ 45 phút ngày 03/4/2024, tại nhà Đặng Ngọc T, ở thôn Q, xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình (bút lục số 79 - 80); Kết luận giám định pháp y tử thi số 461/KLGĐTT-KTHS, ngày 18/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T: “1. Các kết quả chính: khám ngoài: Trên tử thi có các vết sây sát da đang đóng vảy, sưng nề, tụ máu tại vùng đầu, lưng, tay và chân. Khám trong: Xương sọ vùng trán phải không tổn thương, gia đình từ chối giải phẫu các vùng còn lại. 2. Nguyên nhân chết: Do gia đình từ chối giải phẫu tử thi nên không đủ căn cứ để kết luận nguyên nhân chết của nạn nhân Đặng Ngọc T” (bút lục số 81 - 82); Kết luận giám định tử thi qua hồ sơ số 3879/KL-KTHS, ngày 31/7/2024 của V1 Bộ C2: “1. Kết quả giám định chính: ông Đặng Ngọc T bị tai nạn giao thông xảy ra ngày 25/3/2024 vào viện với chẩn đoán: chấn thương-vết thương đầu mặt, chấn thương sọ não kín, xuất huyết nhu mô não, xuất huyết dưới nhện. Quá trình điều trị bệnh diễn biến nặng dần, gia đình xin ra viện, chẩn đoán ra viện: suy hô hấp, viêm phổi, xuất huyết nội sọ, nhồi máu não/tăng huyết áp; đến ngày 03/4/2024 tử vong tại gia nhà. Trên tử thi có các vết sây sát da, sưng nề, tụ máu tại vùng đầu, lưng, tay và chân. Không giải phẫu tử thi. 2. Kết luận: Không giải phẫu tử thi nên không có cơ sở xác định nguyên nhân chết của ông Đặng Ngọc T” (bút lục số 88 - 89); Công văn số 713/BV-KHTH, ngày 23/5/2024 của Bệnh viện đa khoa tỉnh T trả lời về diễn biến tình trạng bệnh của ông Đặng Ngọc T trong thời gian ngày 25/3/2024 và từ ngày 29/3/2024 đến ngày 03/4/2024, thể hiện: “Gia đình ông T không xin cho ông T về nhà thì tiên lượng tình trạng bệnh của ông vẫn rất nặng, nguy cơ tử vong cao” (bút lục 136 - 137); Các biên bản xác minh tình trạng sức khỏe của ông Đặng Ngọc T do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập ngày 11/4/2014 và 27/7/2024 với đại diện gia đình bị hại, đại diện Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp xã Đ, huyện Q (nơi bị hại công tác) nội dung: Trước khi bị tai nạn, ông T đi lại, sinh sống, khỏe mạnh bình thường, không bị mắc các bệnh lý, căn bệnh hiểm nghèo liên quan đến tim, phổi, hô hấp. Ngày 25/3/2024, ông T bị tai nạn giao thông đến ngày 03/4/2024 thì tử vong (bút lục số 113-115; 132); Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ngày 01/4/2024 tại Trạm Y tế xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Công văn số 807/SGTVT-QLVTP&NL, ngày 15/4/2024 của Sở Giao thông vận tải tỉnh T, trả lời: Hà Thị N chưa cấp giấy phép lái xe (bút lục số 11); Phiếu chỉ định xét nghiệm chất gây nghiện ngày 26/3/2024 của Bệnh viện Đ1, huyện Q, tỉnh Thái Bình, bị cáo N: âm tính với các chất gây nghiện; Biên bản đo nồng độ cồn của Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an huyện Q đối với Hà Thị

N hồi 07 giờ 28 phút ngày 26/3/2024, kết quả: “0,000mg/l” (bút lúc số 20 - 21); Kết luận định giá tài sản số 19/KL-HĐĐGTS, ngày 26/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Q, tỉnh Thái Bình, xác định: “hư hỏng của xe mô tô biển số 17B5-067.18, trị giá 2.067.333 đồng” (bút lục số 107- 108); Biên bản ghi lời khai đại diện bị hại đồng thời cũng là người đại diện theo ủy quyền của đại diện bị hại là anh Đặng Văn C1 (bút lục số 201-208); Biên bản ghi lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị T1 (bút lục số 197, 198; 199 - 200), lời khai của anh Hà Quang T2 tại phiên toà; Biên bản ghi lời khai người làm chứng anh Nguyễn Văn N3; anh Hoàng Ngọc B; chị Vũ Thị Kiều N4; chị Đỗ Thị M1 (bút lục số 209 - 212; 213 - 214; 217 - 220; 227 - 230). Cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[2.2] Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 25/3/2024, tại ngã ba giao nhau giữa đường ưu tiên ĐT455 với đường không ưu tiên đi thôn Q, thuộc thôn Q, xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình, Hà Thị N không có giấy phép lái xe mô tô nhưng vẫn điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Honda, số loại WAVE RSXC, màu sơn đen đỏ xám, dung tích 109 cm³, biển số 17B5-067.18, đi ở chiều đường bên phải, hướng xã T đi xã A, nơi có biển báo giao nhau với đường không ưu tiên (W.207e), được chỉ dẫn bằng biển phụ phạm vi tác dụng 350 mét, do không chấp hành đúng biển báo hiệu đường bộ, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn nên khi thấy xe đạp mi ni, màu sơn xanh do ông Đặng Ngọc T điều khiển đi ngược chiều, hướng xã A đi xã T, chuyển hướng (rẽ trái) vào đường đi thôn Q đã không xử lý được, mặt ngoài bánh lốp, chắn bùn, đầu ngoài giảm sóc, cánh yếm, cụm đèn xi nhan bên trái đầu xe mô tô đã va chạm với cụm bàn đạp, trục thân xe, dây phanh bánh sau bên phải xe đạp và chân, tay ông T. Sau va chạm, xe mô tô mất lái đi về phía trước va vào bên phải chị Phạm Thị T1 đứng mua hàng ở mép đường rồi nghiêng phải dựa vào mặt bàn bán hàng của chị Đỗ Thị M1 ở lề đường bên phải chiều đi. Hậu quả: ông T chấn thương đầu mặt, sọ não kín, xuất huyết nhu mô não, xuất huyết dưới nhện, suy hô hấp, viêm phổi, xuất huyết nội sọ, nhồi máu não/tăng huyết áp, được điều trị lên tục đến 15 giờ ngày 03/4/2024 tử vong; chị Phạm Thị T1 bị chấn thương nhẹ ở mặt, bầm dập chân tay; xe mô tô hư hỏng, thiệt hại trị giá 2.067.333 đồng.

Hành vi nêu trên của Hà Thị N đã vi phạm khoản 9 Điều 8; khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 11; khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ; khoản 1, 3 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT, ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ, gây hậu quả làm chết 01 người.

Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm

“9. Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định”.

Điều 9. Quy tắc chung

“1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ".

Điều 11. Chấp hành báo hiệu đường bộ

“1. Người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh và chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ”.

Điều 12. Tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe

“1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình; ở nơi có biển báo "Cự ly tối thiểu giữa hai xe" phải giữ khoảng cách không nhỏ hơn số ghi trên biển báo”.

Điều 5. Các trường hợp phải giảm tốc độ

Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:

  1. Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường;
  2. ...
  3. Qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức; nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; đường vòng; đường có địa hình quanh co, đèo dốc; đoạn đường có mặt đường hẹp, không êm thuận...".

Do đó đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

  • Làm chết người;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

  • Không có giấy phép lái xe theo quy định;

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông. Bản thân bị cáo không có giấy phép lái xe theo quy định, nhận thức rõ việc điều khiển xe mô tô tham gia giao thông là đang sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ nhưng bị cáo vẫn sử dụng xe mô tô. Bị cáo điều khiển xe mô tô đến khu vực ngã ba giao nhau với đường không ưu tiên do không chấp hành đúng biển báo hiệu đường bộ, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn nên nên đã gây tai nạn giao

thông hậu quả làm ông T chấn thương đầu mặt, sọ não kín, xuất huyết nhu mô não, xuất huyết dưới nhện, suy hô hấp, viêm phổi, xuất huyết nội sọ, nhồi máu não/tăng huyết áp, được điều trị lên tục đến 15 giờ ngày 03/4/2024 tử vong; chị Phạm Thị T1 bị chấn thương nhẹ ở mặt, bầm dập chân tay. Do đó việc xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự là cần thiết nhằm răn đe, cải tạo, giáo dục đối với bị cáo nói riêng và đấu tranh, ngăn chặn đối với tội phạm về trật tự an toàn giao thông nói chung.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, tự nguyện bồi thường cho bị hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong vụ án, bị hại Đặng Ngọc T điều khiển xe đạp khi chuyển hướng (rẽ trái) vào đường thôn Quan Đình N5 đã không có tín hiệu báo hướng rẽ, không nhường đường cho xe mô tô bị cáo N đi ngược chiều tới, vi phạm khoản 1, 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Từ những nhận định nêu trên, đối chiếu với các quy định của pháp luật và xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, Hội đồng xét xử thấy bị cáo là nữ, bản thân bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú ổn định, có khả năng cải tạo thành công dân có ích cho xã hội, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, bị cáo đang nuôi 04 con nhỏ, gia đình bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo; chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú có văn bản đề nghị cho bị cáo được cải tạo địa phương nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải bắt chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo cũng đủ để đạt được mục đích của hình phạt. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp.

[6] Về hình phạt bổ sung: Trong vụ án này, thiệt hại về tính mạng là nằm ngoài ý thức chủ quan của bị cáo; bị cáo làm nghề lao động tự do, không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Xe mô tô, nhãn hiệu Honda, số loại WAVE RSXC, màu sơn đen đỏ xám, dung tích 109 cm³, biển số 17B5-067.18, bị cáo Hà Thị N điều khiển gây tai nạn giao thông là của anh Hà Quang T2, sinh năm 1993, cư trú: thôn C, xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình (em trai bị cáo N); Xe đạp mini màu sơn xanh của bị hại Đặng Ngọc T. Quá trình điều tra, xét hỏi xác định việc bị cáo N tự ý sử dụng chiếc xe mô tô trên làm phương tiện đi trưa ngày 25/3/2024 anh T2

không biết. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã không xử lý đối với anh T2 đồng thời ra các quyết định xử lý tài sản, đồ vật trả xe mô tô kèm mảnh vỡ nhựa cho anh T2 và chiếc xe đạp cho đại diện gia đình bị hại T là đúng pháp luật.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo Hà Thị N đã tự nguyện thỏa thuận, bồi thường chi phí cứu chữa, mai táng phí, bù đắp tổn thất về tinh thần cho gia đình bị hại Đặng Ngọc T số tiền 100.000.000 đồng; bồi thường chi phí cứu chữa, bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho chị Phạm Thị T1 số tiền 1.000.000 đồng. Gia đình bị hại và chị T1 đã nhận đủ số tiền trên. Đối với thiệt hại của xe mô tô, nhãn hiệu Honda, số loại WAVE RSXC, biển số 17B5-067.18, trị giá 2.067.333 đồng, anh Hà Quang T2 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự thỏa thuận của các đương sự.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Thị N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 50; Điều 38; khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hà Thị N 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) nă m, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/9/2024). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Q giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.

4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 591, 601 Bộ luật Dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận bồi thường trách nhiệm dân sự giữa bị cáo với gia đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng; bồi thường chi phí cứu chữa, bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho chị Phạm Thị T1 số tiền 1.000.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường xong.

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo Hà Thị N phải nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Hà Quang T2 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/9/2024). Đại diện bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc niêm yết, tống đạt hợp lệ bản án./.

Nơi nhận:

  • - Toà án ND tỉnh Thái Bình;
  • - Viện KSND tỉnh Thái Bình;
  • - Sở Tư pháp Thái Bình;
  • - Bị cáo;
  • - Đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Viện KSND huyện Quỳnh Phụ;
  • - Cơ quan điều tra, Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an huyện Quỳnh Phụ;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ;
  • - Ủy ban nhân dân xã Đồng Tiến;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quốc Doanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 94/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 94/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Hà thị N phạm tôi VPQDVTGGTDB
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger