|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 94/2024/HS-ST Ngày 25/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Cơ Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Quách Thị Bích Ngà
- Ông Bùi Văn Chiến
Thư ký phiên tòa: Bà Lương Diệu Thu – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Ông Lã Phúc Tuấn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại Phòng xử án hình sự, trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 83/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Vinh T (tên gọi khác: Không có); sinh ngày 06/4/1985, tại tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Hộ khẩu thường trú: Khóm F, Phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Chỗ ở: E L, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm công; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; không rõ tên cha, con bà Trần Thị Mỹ L (chết); bị cáo có vợ tên là Trần Bích K, có con sinh năm 2006; tiền án: Không có; tiền sự: Không có. Nhân thân: Ngày 29/9/2011 bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo Bản án số 156/2011/HSST. Ngày 15/5/2012 Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xử xử phúc thẩm, xử phạt 02 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm 05 tháng 26 ngày, theo Bản án số 68/2012/HSPT. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt, đương nhiên xóa án tích. Ngày 17/6/2017 bị Tòa án nhân dân Quận 3 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 21 tháng. Đến ngày 17/3/2019 chấp hành xong; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/01/2024, thay đổi biện pháp tạm giam từ ngày 29/01/2024, tại Nhà tạm giữ Công an Q; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Võ Nguyễn Anh K1; địa chỉ: H thường trú: Khu phố A, phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Chỗ ở: 2 Đ, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.
- Ông Nguyễn Thành L1; địa chỉ: D C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.
- Bà Tạ Bích T1; địa chỉ: H: A N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Chỗ ở: P, nhà số D N, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ 10 phút ngày 19/01/2024, Tổ tuần tra 363 Công an Quận 11 tuần tra đến trước số G Â, Phường A, Quận A thì phát hiện hai nam thanh niên gồm đối tượng Nguyễn Thành L1 (sinh năm 1988) điều khiển xe chở đối tượng Võ Nguyễn Anh K1 (sinh năm 2002) có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để tiến hành kiểm tra và đưa cả hai về trụ sở Công an Phường 14 Quận A làm việc. Qua làm việc ban đầu cả hai đối tượng thừa nhận có sử dụng ma túy và ma túy do hai đối tượng sử dụng có nguồn gốc mua từ một người tên T2 ở đường L, Phường E, Quận A. Qua điều tra truy xét, Công an xác định nơi mua ma túy của đối tượng L1 và đối tượng K1 là tại số E L, Phường E, Quận A. Người tên T2 có tên thật là Trần Vinh T (sinh năm 1985).
Đến khoảng 15 giờ 40 phút ngày 20/01/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an Q phối hợp cùng với Công an P2, Quận A tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà số E L, Phường E, Quận A do đối tượng Trần Vinh T thuê lưu trú, phát hiện thu giữ:
- Một gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy.
- Một gói nylon chứa sáu viên nén màu xanh là ma túy.
- Một cân điện tử, hai bộ dụng cụ sử dụng ma túy, một kéo, một kẹp, một cuộn băng keo, một bình gas mini.
- Bốn điện thoại di động trong đó bao gồm: Một máy điện thoại di động đã bị hư, hai máy điện thoại hiệu VTRETU, một máy điện thoại di động hiệu Iphone.
- Một xe mô tô hai bánh hiệu Honda Vario, biển số 59Y3 729.58.
Ngoài ra, thời điểm khám xét nơi ở của đối tượng T còn có đối tượng Tạ Bích T1 (sinh năm 1998, là bạn gái của đối tượng T) cũng đang có mặt tại đây nên Công an đưa đối tượng T1 và đối tượng T cùng vật chứng về Công an P2, Quận A làm rõ; đồng thời, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với đối tượng Trần Vinh T.
Tại cơ điều tra các đối tượng liên quan khai như sau:
Đối tượng Võ Nguyễn Anh K1 khai nhận: Đối tượng K1 và bị can Trần Vinh T là bạn bè ngoài xã hội đã lâu, từ đầu tháng 01/2024 đến nay đối tượng K1 đã mua ma túy của bị can T được 02 lần. Lần đầu là khoảng đầu tháng 01/2024, đối tượng K1 không nhớ chính xác ngày, số tiền cụ thể. Lần thứ hai mua ma túy là vào ngày 14/01/2024, đối tượng K1 đến nhà số E L, Phường E, Quận A gặp trực tiếp bị can T để mua 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng để sử dụng. Sau khi mua ma túy, đối tượng K1 có lên phòng của bị can T. Lúc này bị can T có để sẵn ma túy trong dụng cụ sử dụng để cho đối tượng K1 sử dụng ngay tại phòng của bị can T. Ma túy và bộ D sử dụng ma túy là của bị can T. Đối tượng K1 chỉ sử dụng ma túy tại phòng của bị can T một lần vào ngày 14/01/2024. Lần mua ma túy vào đầu tháng 01/2024 thì đối tượng K1 không sử dụng ma túy tại phòng của bị can T. Đối với gói ma túy đã mua của bị can T thì đối tượng K1 đã mang về nhà và đã sử dụng hết.
Đối tượng Nguyễn Thành L1 khai nhận: Đối tượng L1 quen biết bị can Trần Vinh T do bạn bè ngoài xã hội giới thiệu được khoảng 3 - 4 tháng. đối tượng L1 đã mua ma túy của bị can T được 02 lần. Lần đầu mua ma túy vào khoảng đầu tháng 01/2024 nhưng đối tượng L1 không nhớ chính xác ngày và số tiền cụ thể. Lần thứ hai đối tượng L1 mua ma túy là vào ngày 16/01/2024. Đối tượng L1 đến nhà số E L, Phường E, Quận A gặp trực tiếp bị can T để mua 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng để sử dụng. Sau khi mua ma túy xong thì đối tượng L1 lên phòng của bị can T. Tại đây bị can T đã để sẵn ma túy trong bộ dụng cụ sử dụng nên đối tượng L1 đã lấy ma túy để sử dụng ngay tại phòng của bị can T. Ma túy và bộ D sử dụng do bị can T cung cấp. Đối tượng L1 sử dụng ma túy tại phòng của bị can T 02 lần khi đến nhà mua ma túy của T (lần thứ nhất vào đầu tháng 01/2024, lần thứ 02 vào ngày 16/01/2024). Đối với gói ma túy mà đối tượng L1 đã mua vào ngày 16/01/2024 thì đối tượng L1 đã mang về sử dụng một mình và đã sử dụng hết.
Đối tượng Tạ Bích T1 khai nhận: Đối tượng T1 là bạn gái của bị can Trần Vinh T. Từ đầu tháng 01/2024, đối tượng T1 đến ở tại nhà số E L, Phường E, Quận A cùng với bị can T. Vào tối ngày 19/01/2024, đối tượng T1 và bị can T có sử dụng ma túy chung với nhau. Ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy đều là của bị can T. Đối tượng T1 chỉ sử dụng ma túy tại nhà của bị can T 01 lần duy nhất vào ngày 19/01/2024, ngoài ra không còn lần nào khác. Đối tượng T1 không biết gì về việc mua bán ma túy cũng như việc bị can T có tàng trữ ma túy trong nhà khi Cơ quan Công an tiến hành khám xét. Ma túy và bộ D sử dụng ma túy của bị can T từ đâu mà có thì đối tượng T1 cũng không biết.
Tại Cơ quan điều tra, bị can Trần Vinh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với lời khai của các đối tượng Võ Nguyễn Anh K1, Nguyễn Thành L1 và Tạ Bích T1. Từ tháng 01/2024, bị can Trần Vinh T thuê nhà trọ tại số E L, Phường E, Quận A của bà Bùi Thanh P. Việc bị can T cất giấu ma túy trong nhà trọ của bà P và việc bị can T sử dụng ma túy trong nhà trọ thì bà P không biết. Ngoài ra, bị can T khai nhận, đối với gói ma túy bán cho đối tượng K1 (vào ngày 14/01/2024) và đối tượng L1 (vào ngày 16/01/2024) thì mỗi gói ma túy bán được, bị can T thu lợi số tiền là 90.000 đồng. Tổng cộng bị can T đã thu lợi bất chính từ 02 lần bán ma túy nêu trên với số tiền là 180.000 đồng, còn lần bán ma túy cho K1 và L1 vào đầu tháng 01/2024 thì bị can T không nhớ chính xác thời gian, số tiền cụ
thể, cũng như số tiền thu lợi bất chính. Về nguồn gốc số ma túy, bị can Trần Vinh T đã mua của một người tên T3 (chưa rõ lai lịch), bị can T không biết rõ họ tên, lai lịch của T3. Vào ngày 13/01/2024, bị can T liên lạc với tên T3 hỏi mua ma túy với giá 2.000.000 đồng. Sau đó đối tượng T3 đặt xe công nghệ giao ma túy đến nơi ở cho bị can T và bị can T trả tiền trực tiếp. Bị canTuân không có lưu và cũng không nhớ số điện thoại của tên T3. Ngoài ra, bị can T cũng thừa nhận, khi hai đối tượng K1 và L1 đến mua ma túy thì bị can T có cho hai đối tượng K1 và L1 sử dụng ma túy trên phòng của mình (cho đối tượng L1 sử dụng lần thứ nhất vào đầu tháng 01/2024, lần thứ 02 vào ngày 16/01/2024; và cho đối tượng K1 sử dụng ma túy 01 lần vào ngày 14/01/2024). Tối ngày 19/01/2024, bị T cùng với đối tượng T1 sử dụng ma túy tại phòng của bị can T. Ma túy và bộ D sử dụng đều do bị can T cung cấp. Bị can T không nói cho đối tượng T1 biết việc bị can T có tàng trữ ma túy cũng như việc mua bán ma túy của bị can T.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy xác định: Bị can Trần Vinh T và các đối tượng Võ Nguyễn Anh K1, Nguyễn Thành L1 và Tạ Bích T1 đều dương tính với chất ma túy.
Tại bản Kết luận giám định số 1626/KL-KTHS ngày 26/01/2024 của Phòng K2 Công an Thành phố H xác định:
- Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong (ký hiệu m1), bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Trần Vinh T và hình dấu Công an P2, Quận A là ma túy ở thể rắn, loại Ketamine; có khối lượng 6,0394g.
- Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong (ký hiệu m2), bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Trần Vinh T và hình dấu Công an P2, Quận A là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine; có khối lượng 3,1578g.
Vật chứng của vụ án:
- Hai gói niêm phong ghi vụ số 1626, có chữ kí giám định viên và cán bộ điều tra, chứa số ma túy còn lại sau giám định.
- Một cân điện tử, một kéo, một kẹp, một cuộn băng keo, một bình gas mini. Đây là dụng cụ bị can T sử dụng phân chia và cất giữ ma túy để bán lại khi có người hỏi mua.
- Hai bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Đây là dụng cụ bị can T sử dụng với mục đích tổ chức cho các đối tượng đến mua ma túy để sử dụng.
- Hai điện thoại di động hiệu VTRETU đã qua sử dụng. Đây là công cụ bị can T sử dụng để liên lạc bán ma túy.
- Một điện thoại di động (không rõ nhãn hiệu) đã bị hư và một điện thoại di động hiệu Iphone đã qua sử dụng. Đây là tài sản cá nhân của bị can T.
- Một xe mô tô 2 bánh hiệu Honda Vario biển số 59Y3 - 729.88 là của đối tượng Tạ Bích T1. Qua làm việc, đối tượng T1 cho biết đã mua chiếc xe trên từ một cửa hàng mua bán xe máy cũ trên đường M - Quận A và hiện vẫn còn đang sử dụng. Đối tượng T1 chưa có làm hợp đồng mua bán sang tên chủ xe. Cơ quan Cảnh
sát điều tra tiến hành làm việc với bà Nguyễn Ngọc Minh P1 (sinh năm 1991) là chủ cửa hàng mua bán xe máy cũ ở số E M, Phường 1, Quận A thì bà P1 cho biết vào ngày 06/5/2023 bà P1 có ký giấy và bán chiếc xe biển số 59Y3 - 729.88 cho người mua là Tạ Bích T1 nhưng chị T1 vẫn chưa làm thủ tục ký công chứng và sang tên chủ xe. Chiếc xe trên bà P1 đã mua lại từ một người tên là Huỳnh Thị Tuyết M, khi mua xe từ bà M thì bà P1 có ký hợp đồng ủy quyền nhưng hiện nay bà P1 không còn giữ các giấy tờ trên. Qua xác minh thông tin chủ sở hữu của chiếc xe mô tô 2 bánh biển số 59Y3 - 729.88, Cơ quan Cảnh sát điều tra xác định được chủ sở hữu là bà Huỳnh Thị Tuyết M (sinh năm 1998; địa chỉ: 1 đường I, tổ B, G, xã T, huyện C). Cơ quan Cảnh sát điều tra đã liên hệ với Công an xã T, huyện C xác minh, qua đó được biết bà Huỳnh Thị Tuyết M có đăng ký thường trú tại địa chỉ trên nhưng gia đình bà M đã bán nhà đi khỏi địa phương, hiện không rõ nơi cư trú. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã có công văn gửi Báo Công an Thành phố H và Cổng thông tin điện tử Công an Thành phố H hỗ trợ đăng thông tin tìm chủ sở hữu của chiếc xe mô tô 2 bánh biển số 59Y3 - 729.88 nhưng vẫn chưa làm việc được với chủ sở hữu chiếc xe trên.
- Một đĩa ghi âm, ghi hình việc hỏi cung bị can Trần Vinh T (lưu hồ sơ vụ án).
Tại Bản cáo trạng số 95/CT-VKSQ11 ngày 30/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị can Trần Vinh T tội danh “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Vinh T có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra Công an Q và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là Nguyễn Thành L1, Võ Nguyễn Anh K1 và Tạ Bích T1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 16 năm 06 tháng đến 17 năm 06 tháng tù.
Kiểm sát viên đề nghị xử lý vật chứng như sau:
- Lưu vào hồ sơ vụ án một đĩa ghi âm, ghi hình.
- Tịch thu tiêu hủy hai gói niêm phong ghi vụ số 1626.
- Tịch thu tiêu hủy một cân điện tử, một kéo, một kẹp, một cuộn băng keo, một bình gas mini.
- Tịch thu tiêu hủy hai bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước hai điện thoại di động hiệu VTRETU đã qua sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo Trần Vinh T một điện thoại di động (không rõ nhãn hiệu) đã bị hư và một điện thoại di động hiệu Iphone đã qua sử dụng.
- Tiếp tục đăng báo truy tìm chủ sở hữu của chiếc xe mô tô 2 bánh hiệu Honda Vario biển số 59Y3 - 729.88 để xử lý theo quy định.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Từ tháng 01/2024, tại nhà trọ tại địa chỉ số E L, Phường E, Quận A, bị cáo Trần Vinh T đã có hành vi cất giữ ma túy để bán lại cho người khác. Cụ thể, bị cáo đã bán ma túy cho đối tượng Võ Nguyễn Anh K1 và đối tượng Nguyễn Thành L1; đồng thời, bị cáo Trần Vinh T đã có hành vi cung cấp ma túy và dụng cụ sử dụng để cho các đối tượng Võ Nguyễn Anh K1, Nguyễn Thành L1 và Tạ Bích T1 sử dụng ma túy tại phòng trọ của bị cáo.
Các đối tượng Võ Nguyễn Anh K1, Nguyễn Thành L1 khai nhận có mua ma túy của bị cáo T. Đồng thời, bị cáo Trần Vinh T và các đối tượng Võ Nguyễn Anh K1, Nguyễn Thành L1 và Tạ Bích T1 khai nhận có sử dụng ma túy do bị cáo T cung cấp tại phòng trọ của bị cáo. Lời khai này của bị cáo và các đối tượng là phù hợp với kết quả xét nghiệm chất ma túy qua nước tiểu của bị cáo và các đối tượng do Công an P3, Quận A và Bệnh viện Q1 thực hiện vào ngày 19/01/2024 và ngày 20/01/2024.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 và Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, biết rõ ma túy là chất gây nghiện mang tính độc hại cao bị Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển. Song do nghiện ma túy và muốn thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý các chất gây nghiện, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội, chống lại chủ trương bài trừ tệ nạn ma túy của Nhà nước. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị và giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.
[2] Về tình tiết định khung hình phạt:
Bị cáo bị xác định là đã bán ma túy bốn lần cho các đối tượng Võ Nguyễn Anh K1 và Nguyễn Thành L1. Cụ thể, bị cáo đã bán ma túy hai lần cho đối tượng Võ Nguyễn Anh K1, lần một vào đầu tháng 01/2024 và lần hai vào ngày 14/01/2024; bị cáo đã bán ma túy hai lần cho đối tượng Nguyễn Thành L1, lần một vào ngày đầu tháng 01/2024 và lần hai vào ngày 16/01/2024. Do đó, hành vi của bị cáo thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo bị xác định là đã bốn lần tổ chức cung cấp ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy và nơi sử dụng ma túy cho ba đối tượng Võ Nguyễn Anh K1, Nguyễn Thành L1 và Tạ Bích T1 sử dụng ma túy tại bốn thời điểm khác nhau. Cụ thể, bị cáo đã tổ chức cho đối tượng Võ Nguyễn Anh K1 sử dụng ma túy một lần vào ngày 14/01/2024, tổ chức cho đối tượng Nguyễn Thành L1 sử dụng ma túy hai lần vào đầu tháng 01/2024 và ngày 16/01/2024; tổ chức cho đối tượng Tạ Bích T1 sử dụng ma túy một lần vào ngày 19/01/2024. Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội “phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Năm 2012 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xử phạt 02 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm 05 tháng 26 ngày, theo Bản án số 68/2012/HSPT ngày 15/5/2012. Bị cáo đã chấp hành xong bản án và đã được đương nhiên xóa án tích nên không bị xác định là tái phạm.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về xem xét phạt tiền bổ sung đối với bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Vinh T khai nhận đã bán ma túy cho hai đối tượng Võ Nguyễn Anh K1 và Nguyễn Thành L1, thu lợi bất chính với số tiền là 180.000 đồng. Ngoài lời khai nhận của bị cáo thì không có căn cứ nào khác thể hiện bị cáo đã thực tế hưởng lợi bao nhiêu tiền nên Hội đồng xét xử không buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 180.000 đồng. Tuy nhiên, do có cơ sở để xác định bị cáo đã có hưởng lợi từ hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, phạt tiền bổ sung đối với bị cáo số tiền là 5.000.000 đồng để sung công quỹ nhà nước.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Đối với vật chứng là hai gói niêm phong ghi vụ số 1626 có chứa số ma túy còn lại sau giám định, là vật cấm tàng trữ; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với vật chứng là một cân điện tử, một kéo, một kẹp, một cuộn băng keo, một bình gas mini, là dụng cụ bị cáo T sử dụng phân chia và cất giữ ma túy để bán. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm a khoản 2
Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với vật chứng là hai bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Đây là dụng cụ bị cáo T sử dụng với mục đích tổ chức cho các đối tượng đến mua ma túy để sử dụng. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với vật chứng là hai điện thoại di động hiệu VTRETU đã qua sử dụng. Đây là công cụ bị cáo T sử dụng để liên lạc bán ma túy. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với vật chứng là một điện thoại di động (không rõ nhãn hiệu) đã bị hư và một điện thoại di động hiệu Iphone đã qua sử dụng. Đây là tài sản cá nhân của bị cáo T không sử dụng vào việc phạm tội. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử giải quyết trả lại cho bị cáo.
- Đối với vật chứng là một xe mô tô 2 bánh hiệu Honda Vario biển số 59Y3 - 729.88 là tài sản cá nhân của bà Tạ Bích T1 mua từ cửa hàng mua bán xe máy cũ ở số E M, Phường I, Quận A do bà Nguyễn Ngọc Minh P1 làm chủ (xe do bà Huỳnh Thị Tuyết M đứng tên đăng ký chủ sở hữu nhưng đã bán lại cho bà Nguyễn Ngọc Minh P1, sau đó bà P1 bán lại cho bà Tạ Bích T1 nhưng các bên chưa lập thủ tục mua bán theo quy định). Do chưa tìm được bà Huỳnh Thị Tuyết M để xác định việc mua bán xe và xác định chủ sở hữu của chiếc xe nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q chưa xử lý xe. Hội đồng xét xử xét thấy chiếc xe nêu trên là tài sản do dối tượng Tạ Bích T1 mua sử dụng và quản lý nhưng chưa tiến hành thủ tục mua bán theo quy định. Tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nhưng chưa xác định được chủ sở hữu nên giải quyết giao cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Dân sự năm 2015; trường hợp không xác định được chủ sở hữu của chiếc xe nêu trên trong thời hạn luật định thì giải quyết giao lại cho bà Tạ Bích T1 tiếp tục quản lý theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với vật chứng là một đĩa ghi âm, ghi hình việc hỏi cung bị cáo Trần Vinh T do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q lập và đưa vào hồ sơ vụ án. Căn cứ Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã xử lý vật chứng đúng quy định của pháp luật.
[6] Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Trần Vinh T, điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 được phân công điều tra, kiểm sát giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên. Do đó, có cơ sở để xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
[7] Về xem xét vai trò, trách nhiệm của đối tượng có liên quan trong vụ án:
Đối với đối tượng tên T3 là người đã bán ma túy cho bị cáo T, do không xác định được lai lịch của đối tượng nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm là có căn cứ; khi điều tra, truy xét được sẽ xử lý sau.
Đối với các đối tượng Võ Nguyễn Anh K1 và Nguyễn Thành L1 có hành vi mua ma túy của bị cáo T để sử dụng và có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng trọ của bị cáo T; đối tượng Tạ Bích T1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng trọ của bị cáo T; Công an Q đã xử lý thông báo bàn giao cho địa phương nơi cư trú để quản lý theo quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét lại. Riêng đối tượng Nguyễn Thành L1 có hành vi điều khiển xe không có giấy đăng ký xe và sử dụng trái phép chất ma túy đã bị Công an Q lập biên bản vi phạm và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với bà Bùi Thanh P là chủ nhà trọ tại địa chỉ số E L, Phường E, Quận A không biết việc bị cáo T có cất giấu ma túy, mua bán ma túy và tổ chức sử dụng ma túy nên Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để xử lý hình sự đối với bà P.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; Điều 55; điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Trần Vinh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Vinh T 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 16 (mười sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/01/2024.
Phạt tiền bổ sung đối với bị cáo số tiền là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
Căn cứ Điều 228 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 và Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Lưu vào hồ sơ vụ án một đĩa ghi âm, ghi hình việc hỏi cung bị cáo Trần Vinh T.
Tịch thu, tiêu hủy hai gói niêm phong ghi vụ số 1626 (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 202/LNK-ĐCSMT ngày 29/02/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q).
Tịch thu, tiêu hủy một cân điện tử, một kéo, một kẹp, một cuộn băng keo, một bình gas mini và hai bộ dụng cụ sử dụng ma túy (theo Lệnh nhập kho vật
chứng số 101/LNK-ĐCSMT ngày 31/01/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q).
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước hai điện thoại di động hiệu VTRETU đã qua sử dụng (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 101/LNK-ĐCSMT ngày 31/01/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q).
Trả lại cho bị cáo Trần Vinh T một điện thoại di động (không rõ nhãn hiệu) đã bị hư và một điện thoại di động hiệu Iphone đã qua sử dụng (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 101/LNK-ĐCSMT ngày 31/01/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q).
Giao cho Chi cục thi hành án dân sự Quận 11 thông báo trong thời hạn 12 tháng để chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp (nếu có) đến nhận đối với một xe mô tô 2 bánh hiệu Honda Vario biển số 59Y3 - 729.88. Quá thời hạn trên kể từ ngày Chi cục thi hành án dân sự Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thông báo mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì giao lại cho bà Tạ Bích T1 tiếp tục quản lý, sử dụng theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (theo Lệnh nhập kho vật chứng số 101/LNK-ĐCSMT ngày 31/01/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q).
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Cơ Dũng |
Bản án số 94/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 94/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
