TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 94/HNGĐ-ST Ngày: 13/9/2024 V/v tranh chấp "ly hôn, nuôi con” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự do – Hạnh Phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY-TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Thoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Tám
Ông Dương Thanh Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phạm Kiều Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trân Quốc V – Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 45/2024/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự.
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Mỹ X, sinh năm 1988 (có đơn xin vắng mặt);
Địa chỉ: ấp Q, xã N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
Bị đơn: Anh Nguyễn Minh N, sinh năm 1983 (vắng mặt);
HKTT: ấp Q, xã N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
Nơi ở hiện nay: số B, khu phố Đ, B, T, tỉnh Bình Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 23 tháng 02 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị Mỹ X trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Nguyễn Minh N do quen biết và được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện C (nay là thị xã C), tỉnh Tiền Giang theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 01 ngày 06/01/2010. Sau khi cưới thì trong suốt quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh N thường xuyên nhậu, cờ bạc, không chăm lo cuộc sống gia đình, không lo các con. Chị và anh N đã ly thân và cắt đứt quan hệ vợ chồng từ tháng 12/2021 cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đoàn tụ lại sống không hạnh phúc. Nên chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Minh N.
Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Lê Kim N1, sinh ngày 03/12/2009 và Nguyễn Lê Minh Q, sinh ngày 27/6/2017. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung, chị không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Minh N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh N vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như: Thẩm quyền thụ lý vụ án đúng theo quy định tại Điều 28, 35. Việc xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho đương sự đúng quy định tại Điều 195, 196 Bộ luật tố tụng dân sự. Thời hạn chuẩn bị xét xử thực hiện đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, phía bị đơn không đến tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án là chưa chấp hành nghiêm quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận: yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Mỹ X cho chị X được ly hôn với anh Nguyễn Minh N.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Lê Kim N1, sinh ngày 03/12/2009 và Nguyễn Lê Minh Q, sinh ngày 27/6/2017 cho chị Lê Thị Mỹ X trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Minh N không phải cấp dưỡng nuôi con do chị X không có yêu cầu.
Anh Nguyễn Minh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị X trình bày không có, anh N thì không có ý kiến gì. Nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Lê Thị Mỹ X phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở lời trình bày của các đương sự, các tài liệu chứng cứ được đưa ra xem xét tại phiên tòa. Trên cơ sở kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Thị Mỹ X có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Minh N vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa là phù hợp.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”, bị đơn anh Nguyễn Minh N có hộ khẩu thường trú tại ấp Q, xã N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
[3] Về quan hệ hôn nhân: chị Lê Thị Mỹ X và anh Nguyễn Minh N tổ chức đám cưới và chung sống với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện C (nay là thị xã C), tỉnh Tiền Giang theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 01 ngày 06/01/2010 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi cưới thì trong suốt quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh N thường xuyên nhậu, cờ bạc, không chăm lo cuộc sống gia đình, không lo các con. Chị và anh N đã ly thân và cắt đứt quan hệ vợ chồng từ tháng 12/2021 cho đến nay. Nay chị X xác định tình cảm vợ chồng không còn, đoàn tụ lại sống không hạnh phúc nên chị yêu cầu ly hôn với anh N.
[3.1] Hội đồng xét xử xét thấy: sau khi chị X và anh N xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2010, quá trình chung sống thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Từ lúc ly thân cho đến nay thì chị X và anh N không còn liên lạc với nhau. Sau khi tòa án thụ lý vụ án đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng cho anh N để thông báo về yêu cầu ly hôn của chị X, nhưng anh N không có ý kiến gì; không có mặt tham gia các phiên hòa giải và phiên tòa, anh N không thể hiện được ý kiến, cũng không đưa ra biện pháp cụ thể nào để hàn gắn lại mối quan hệ vợ chồng. Việc anh N không đến trong suốt quá trình tòa án giải quyết vụ án là anh N đã mặc nhiên từ bỏ cơ hội để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ với nhau. Mặc dù, Tòa án đã động viên nhưng chị X vẫn kiên quyết yêu cầu ly hôn với anh N.
[3.2] Từ những tình tiết trên, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử nhận định tình trạng hôn nhân giữa chị X anh N đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị X là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Lê Kim N1, sinh ngày 03/12/2009 và Nguyễn Lê Minh Q, sinh ngày 27/6/2017. Khi ly hôn chị X yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung, chị không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Xét, từ khi chị X và anh N sống ly thân đến nay con chung do chị X trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đã ổn định cuộc sống và đảm bảo tốt về mọi mặt, sau khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay thì anh N cũng không đến cũng không có ý kiến đối với yêu cầu về con chung. Đồng thời, theo lời khai của cháu Q và N1 có nguyện vọng được sống với chị X khi chị X và anh N ly hôn. Do đó, để ổn định cuộc sống cho cháu Q và cháu N1, nên giao cháu Nguyễn Lê Kim N1, Nguyễn Lê Minh Q cho chị Lê Thị Mỹ X chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị X không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, anh N không có ý kiến đối với yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị X trình bày không có, anh N thì không có ý kiến gì. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Buộc chị Lê Thị Mỹ X phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
[7] Xét đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị Mỹ X được ly hôn với anh Nguyễn Minh N.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Lê Kim N1, sinh ngày 03/12/2009 và Nguyễn Lê Minh Q, sinh ngày 27/6/2017 cho chị Lê Thị Mỹ X trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, anh Nguyễn Minh N không phải cấp dưỡng nuôi con do chị X không có yêu cầu.
Anh Nguyễn Minh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Lê Thị Mỹ X phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà chị X đã nộp theo biên lai số 0004722 ngày 23/02/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Cai Lậy. Nên nên xem như chị X đã nộp xong tiền án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND thị xã Cai Lậy; - Chi cục THADS thị xã Cai Lậy; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Kim Thoa |
Bản án số 94/HNGĐ-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY-TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 94/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY-TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
