|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 94/2024/DS-ST Ngày: 30 – 8 – 2024 V/v tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Xuân Nữ.
Các Hội thẩm nhân dân.
- 1. Ông Ngô Văn Khon;
- 2. Bà Võ Thị Tuyết Trinh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Thanh Phong – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa: Ông Võ Hồng Nhân - Kiểm sát viên.
Trong hai ngày 23 và ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 411/2023/TLST-DS ngày 22 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 123/2024/QĐST-DS ngày 07 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Trần Ngọc H, sinh năm 1985 – Chủ hộ kinh doanh Trần Ngọc H. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Đinh Thị N, sinh năm 1961. Địa chỉ: Số D, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (Hợp đồng ủy quyền ngày 13/11/2023).
2. Bị đơn:
- Lê Thành Đ, sinh năm 1963.
- Hồ Thị K, sinh năm 1961.
- Lê Trường S, sinh năm 1980.
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Đinh Thị N, sinh năm 1961. Địa chỉ: Số D, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn có người đại diện hợp pháp là bà Đinh Thị N trình bày:
Ông Trần Ngọc H – Chủ hộ kinh doanh Trần Ngọc H có kinh doanh cửa hàng vật tư nông nghiệp Trần Ngọc H tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Anh Lê Trường S có mua phân bón, thuốc trừ sâu của cửa hàng vật tư nông nghiệp Trần Ngọc H và vay tiền của mẹ ông Trần Ngọc H – Chủ hộ kinh doanh Trần Ngọc H là bà Đinh Thị N số tiền 50.000.000 đồng. Tính đến ngày 25/7/2020, anh S còn thiếu ông Trần Ngọc H – Chủ hộ kinh doanh Trần Ngọc H số tiền mua bán vật tư nông nghiệp là 81.279.000 đồng và nợ tiền vay của bà N là 80.000.000 đồng gồm tiền vốn là 50.000.000 đồng, tiền lãi là 30.000.000 đồng tính từ ngày vay 05/01/2019 đến ngày hai bên thống nhất làm biên nhận nợ 05/7/2020 là 18 tháng, tổng cộng là 161.279.000 đồng (81.279.000 đồng + 80.000.000 đồng). Ngày 25/7/2020, cha mẹ của anh S là ông Lê Thành Đ, bà Hồ Thị K có nhận bảo lãnh trả nợ cho anh S số tiền 161.279.000 đồng.
Vào ngày 23/12/2022, vợ chồng ông Lê Thành Đ, bà Hồ Thị K có mua phân bón, thuốc trừ sâu của cửa hàng vật tư nông nghiệp Trần Ngọc H còn thiếu ông Trần Ngọc H – Chủ hộ kinh doanh Trần Ngọc H số tiền là 5.296.000 đồng.
* Theo đơn khởi kiện, ông Trần Ngọc H – Chủ hộ kinh doanh Trần Ngọc H yêu cầu anh Lê Trường S, ông Lê Thành Đ, bà Hồ Thị K liên đới trả số tiền là 219.220.000 đồng (lấy số tròn) gồm:
- + Tiền mua phân bón, thuốc trừ sâu là 86.575.000 đồng (81.279.000 đồng + 5.296.000 đồng) và tiền vay là 80.000.000 đồng, tổng cộng là 166.575.000 đồng;
- + Tiền lãi của số tiền 161.279.000 đồng (gồm tiền nợ mua phân bón, thuốc trừ sâu 81.279.000 đồng và tiền vay 80.000.000 đồng) với lãi suất 0,83%/tháng tính từ ngày 25/7/2020 đến ngày 31/10/2023 là 39 tháng, thành tiền lãi là 52.206.000 đồng;
- + Tiền lãi của số tiền nợ mua phân bón, thuốc trừ sâu 5.296.000 đồng với lãi suất 0,83%/tháng tính từ ngày 23/12/2022 đến ngày 31/10/2023 là 10 tháng, thành tiền lãi là 439.568 đồng.
* Tại phiên hòa giải, ông Trần Ngọc H – Chủ hộ kinh doanh Trần Ngọc H:
- + Yêu cầu anh S, ông Đ, bà K liên đới trả tiền mua phân bón, thuốc trừ sâu là 81.279.000 đồng, không yêu cầu trả lãi. Yêu cầu ông Đ, bà K liên đới trả tiền mua phân bón, thuốc trừ sâu là 5.296.000 đồng, không yêu cầu trả lãi;
- + R yêu cầu anh S liên đới cùng ông Đ, bà K trả tiền mua phân bón, thuốc trừ sâu là 5.296.000 đồng. Rút yêu cầu anh S, ông Đ, bà K liên đới trả tiền vay 80.000.000 đồng.
* Tại phiên tòa, ông Trần Ngọc H – Chủ hộ kinh doanh Trần Ngọc H:
- + Yêu cầu anh S, bà K liên đới trả tiền mua phân bón, thuốc trừ sâu là 81.279.000 đồng, không yêu cầu trả lãi;
- + Rút yêu cầu ông Đ liên đới cùng anh S, bà K trả tiền mua phân bón, thuốc trừ sâu là 81.279.000 đồng; R yêu cầu anh S, ông Đ, bà K liên đới trả tiền mua phân bón, thuốc trừ sâu là 5.296.000 đồng; R yêu cầu anh S, ông Đ, bà K liên đới trả tiền vay 80.000.000 đồng.
- Theo đơn yêu cầu độc lập, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đinh Thị N trình bày:
Vào khoảng ngày 05/01/2019, anh Lê Trường S có vay của bà Đinh Thị N số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận miệng 5%/tháng, không xác định thời hạn trả, mục đích để anh S có vốn kinh doanh mua bán. Tính đến ngày 25/7/2020, anh S và bà N thống nhất làm giấy nhận nợ là anh S còn thiếu bà N tiền vay là 80.000.000 đồng gồm tiền vốn là 50.000.000 đồng, tiền lãi là 30.000.000 đồng tính từ ngày vay 05/01/2019 đến ngày hai bên thống nhất làm giấy nhận nợ ngày 05/7/2020 là 18 tháng. Ngày 25/7/2020, cha mẹ của anh S là ông Lê Thành Đ, bà Hồ Thị K có nhận bảo lãnh trả nợ cho anh S số tiền vay 80.000.000 đồng, bà K có ký tên vào biên nhận.
Theo đơn yêu cầu độc lập và tại phiên hòa giải, bà N yêu cầu anh S, ông Đ, bà K liên đới trả tiền vay 80.000.000 đồng, không yêu cầu trả lãi.
Tại phiên tòa, bà N yêu cầu anh S, bà K liên đới trả tiền vốn là 50.000.000 đồng, tiền lãi là 14.940.000 đồng với lãi suất 1,66%/tháng tính từ ngày 05/01/2019 đến ngày 05/7/2020 là 18 tháng (50.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 18 tháng), tổng cộng là 64.940.000 đồng; Rút một phần yêu cầu về việc trả số tiền 15.060.000 đồng và yêu cầu ông Đ có trách nhiệm liên đới trả nợ.
- Tại Biên bản lấy lời khai ngày 04/5/2024 và phiên hòa giải ngày 04/7/2024, bị đơn Lê Thành Đ, Hồ Thị K trình bày:
Ông Lê Thành Đ và bà Hồ Thị K là vợ chồng, anh Lê Trường S là con của ông Đ, bà K. Ông Đ, bà K không biết và không cùng anh S mua phân bón, thuốc trừ sâu của ông Trần Ngọc H - Chủ hộ kinh doanh Trần Ngọc H với số tiền nợ 81.279.000 đồng và ông Đ, bà K không cùng anh S vay của bà N số tiền 80.000.000 đồng, mà 02 khoản nợ này là của cá nhân anh S. Ông Đ, bà K không có nhận bảo lãnh trả tiền nợ cho anh S gồm 81.279.000 đồng mua phân bón, thuốc trừ sâu của ông Trần Ngọc H - Chủ hộ kinh doanh Trần Ngọc H và 80.000.000 đồng vay của bà N. Chữ ký trong biên nhận ngày 25/7/2020 là của bà K nhưng bà K ký theo đề nghị của bà Đinh Thị N.
Ngày 23/12/2022, vợ chồng ông Đ, bà K có mua phân bón, thuốc trừ sâu của cửa hàng vật tư nông nghiệp Trần Ngọc H còn thiếu số tiền là 5.296.000 đồng.
Nay ông Đ, bà K đồng ý liên đới trả cho ông Trần Ngọc H – Chủ hộ kinh doanh Trần Ngọc H tiền mua phân bón, thuốc trừ sâu 5.296.000 đồng; không đồng ý liên đới cùng anh S trả cho ông Trần Ngọc H – Chủ hộ kinh doanh Trần Ngọc H tiền mua phân bón, thuốc trừ sâu 81.279.000 đồng, không đồng ý liên đới cùng anh S trả cho bà N tiền vay là 80.000.000 đồng.
Về nơi cư trú của anh Lê Trường S, từ nhỏ anh Sơn S1 với ông Đ, bà K tại tỉnh Bến Tre. Năm 2003, ông S chuyển đến ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp làm vườn xoài. Hiện nay, anh S không còn làm vườn xoài mà đi làm thuê tại tỉnh Bình Dương, ông Đ và bà K không biết địa chỉ cụ thể.
* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn Lê Trường S được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng anh S không có văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông Trần Ngọc H - Chủ hộ kinh doanh Trần Ngọc H và bà Đinh Thị N, đồng thời đều vắng mặt không có lý do.
* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của đương sự: Nguyên đơn thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Bị đơn Lê Trường S chưa thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật.
Việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Ngọc H - Chủ hộ kinh doanh Trần Ngọc H và bà Đinh Thị N. Buộc anh Lê Trường S và bà Hồ Thị K liên đới trả cho ông Trần Ngọc H - Chủ hộ kinh doanh Trần Ngọc H số tiền 81.279.000 đồng, và trả cho bà Đinh Thị N số tiền 64.940.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về dân sự hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Đương sự bà N, ông Đ, bà K trình bày anh S sinh sống và mua phân bón, thuốc trừ sâu của ông Trần Ngọc H - Chủ hộ kinh doanh Trần Ngọc H để làm vườn xoài tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Tại giấy nhận nợ ngày 05/7/2020 có ghi địa chỉ anh S tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Theo kết quả xác minh của Công an xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, anh Lê Trường S không có đăng ký hộ khẩu thường trú hay tạm trú tại Xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, tại điểm 2 khoản 1 Điều 5 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định “...Nơi cư trú của bị đơn là địa chỉ, chỗ ở hợp pháp mà bị đơn thường trú, hoặc tạm trú hoặc đang sinh sống theo quy định của Luật cư trú” nên không buộc bị đơn phải đăng ký thường trú hay tạm trú tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Các đương sự được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bà N có mặt, ông Đ, bà K vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh S vắng mặt không có lý do. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ, bà K, anh S theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu của ông Trần Ngọc H - Chủ hộ kinh doanh Trần Ngọc H về yêu cầu anh S, bà K liên đới trả tiền mua bán tài sản là 81.279.000 đồng; rút yêu cầu trả lãi của tiền mua bán tài sản 81.279.000 đồng; rút yêu cầu ông Đ liên đới trả tiền mua bán tài sản 81.279.000 đồng; rút yêu cầu anh S, ông Đ, bà K liên đới trả tiền mua bán tài sản 5.296.000 đồng; rút yêu cầu anh S, ông Đ, bà K liên đới trả tiền vay 80.000.000 đồng.
Xét yêu cầu của bà Đinh Thị N về yêu cầu anh S, bà K liên đới trả tiền vay là 64.940.000 đồng trong đó tiền vốn là 50.000.000 đồng, tiền lãi là 14.940.000 đồng; rút yêu cầu anh S, bà K trả số tiền 15.060.000 đồng và rút yêu cầu ông Đ liên đới trả nợ vay.
[2.1] Về hợp đồng mua bán tài sản:
Căn cứ 02 trang giấy sổ có ghi nhận tên hàng hóa, số lượng, giá tiền và tổng kết số tiền mua hàng là 81.279.000 đồng và 01 trang giấy đề ngày 25/7/2020 thể hiện bà Hồ Thị K là mẹ của anh Lê Trường S có làm giấy nợ bà N tiền mua vật tư tổng cộng là 81.279.000 đồng. Bà K thừa nhận chữ ký tại giấy nợ ngày 25/7/2020 là của bà nhưng bà cho rằng khi ký tên thì bà bị bệnh và do bà N kêu bà ký nên bà mới ký, nhưng bà K không chứng minh được việc bà ký tên là do bị bà N lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc bà K đang trong tình trạng không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị N xác định tiền nợ vật tư 81.279.000 đồng này là của anh Lê Trường S nợ cửa hàng vật tư nông nghiệp Trần Ngọc H do ông Trần Ngọc H là chủ chứ không phải nợ bà Đinh Thị N, từ ngày 25/7/2020 đến nay thì anh S và bà K chưa trả được cho ông Trần Ngọc H - Chủ hộ kinh doanh Trần Ngọc H khoản tiền nào.
Vậy ông Trần Ngọc H - Chủ hộ kinh doanh Trần Ngọc H yêu cầu anh S, bà K liên đới trả số tiền mua bán tài sản còn nợ là 81.279.000 đồng là có cơ sở nên chấp nhận.
[2.2] Về hợp đồng vay tài sản:
Căn cứ Giấy nhận nợ ngày 05/7/2020 thể hiện anh Lê Trường S có nợ của bà Đinh Thị N số tiền ghi bằng số là “50.000.000” đồng được sửa lại thành “80.000.000” đồng, số tiền bằng chữ là “năm mươi triệu đồng”, không xác định thời hạn trả, lãi suất là 0,5%/tháng.
Bà Đinh Thị N trình bày, anh Lê Trường S vay của bà Đinh Thị N tiền vốn là 50.000.000 đồng vào trước ngày làm giấy nhận nợ 05/7/2020 là 1,5 năm (18 tháng) tức là ngày 05/01/2019, lãi suất 5%/tháng, việc vay tiền chỉ thỏa thuận miệng. Đến ngày 05/7/2020, bà N và anh S thống nhất làm giấy nhận nợ, ban đầu anh S ghi số tiền vay gốc là 50.000.000 đồng, nhưng sau đó bà N và anh S thống nhất số tiền nợ là 80.000.000 đồng trong đó tiền vốn vay là 50.000.000 đồng tiền lãi là 30.000.000 đồng, nên anh S sửa lại số tiền đã ghi trong giấy nhận nợ từ “50.000.000” đồng thành “80.000.000” đồng. Mặt khác, căn cứ 01 trang giấy đề ngày 25/7/2020 thể hiện bà Hồ Thị K là mẹ của anh Lê Trường S có làm giấy nợ bà N tiền mượn là 80.000.000 đồng. Bà K thừa nhận chữ ký tại giấy nợ ngày 25/7/2020 là của bà nhưng bà cho rằng khi ký tên thì bà bị bệnh và do bà N kêu bà ký nên bà mới ký, như phân tích ở trên thì bà K không chứng minh được việc bà ký tên là do bị bà N lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc bà K đang trong tình trạng không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Bà N trình bày từ ngày 25/7/2020 đến nay thì anh S và bà K chưa trả được cho bà N khoản tiền nào.
Tại phiên tòa, bà N yêu cầu anh S trả số tiền 64.940.000 đồng trong đó tiền vốn là 50.000.000 đồng, tiền lãi là 14.940.000 đồng với lãi suất 1,66%/tháng tính từ ngày 05/01/2019 đến ngày 05/7/2020 (50.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 18 tháng), do lãi suất yêu cầu tính từ ngày vay 05/01/2019 đến ngày làm giấy nhận nợ 05/7/2020 đối với số tiền 50.000.000 đồng không vượt quá mức lãi suất quy định (20%/năm) và yêu cầu trả số tiền vay tổng cộng 64.940.000 đồng là có lợi cho bị đơn.
Vậy bà N yêu cầu anh S, bà K liên đới trả số tiền vay 64.940.000 đồng đồng là có căn cứ nên được chấp nhận.
[2.3] Đối với anh S, quá trình chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa anh S đều không có ý kiến phản bác, không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án, cho nên anh S đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình. Vì vậy phải chịu hậu quả pháp lý là có nghĩa vụ đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của nguyên đơn, cụ thể anh S có trách nhiệm trả cho ông H - Chủ hộ kinh doanh Trần Ngọc H tiền mua bán tài sản còn nợ là 81.279.000 đồng và trả cho bà N tiền vay còn nợ là 64.940.000 đồng.
[2.4] Về các yêu cầu của ông Trần Ngọc H - Chủ hộ kinh doanh Trần Ngọc H là yêu cầu trả lãi của tiền mua bán tài sản 81.279.000 đồng; yêu cầu ông Đ liên đới trả tiền mua bán tài sản 81.279.000 đồng; yêu cầu anh S, ông Đ, bà K liên đới trả tiền mua bán tài sản 5.296.000 đồng; yêu cầu anh S, ông Đ, bà K liên đới trả tiền vay 80.000.000 đồng. Do ông H - Chủ hộ kinh doanh Trần Ngọc H rút yêu cầu nên Hội đồng xét xử đình chỉ các yêu cầu này của ông.
Về yêu cầu của bà N là yêu cầu anh S, bà K trả số tiền 15.060.000 đồng và yêu cầu ông Đ liên đới trả nợ vay. Do bà N rút yêu cầu nên Hội đồng xét xử đình chỉ các yêu cầu này của bà.
[3] Xét ý kiến của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ chấp nhận.
[4] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Ngọc H - Chủ hộ kinh doanh Trần Ngọc H và chấp nhận yêu cầu độc lập của bà N nên anh S, bà K phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, các Điều 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Các Điều 430, 440, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Ngọc H - Chủ hộ kinh doanh Trần Ngọc H. Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Đinh Thị N.
Buộc anh Lê Trường S, bà Hồ Thị K có trách nhiệm liên đới trả cho ông Trần Ngọc H - Chủ hộ kinh doanh Trần Ngọc H số tiền mua bán tài sản còn nợ là 81.279.000 đồng.
Buộc anh Lê Trường S, bà Hồ Thị K có trách nhiệm liên đới trả cho bà Đinh Thị N số tiền vay còn nợ là 64.940.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Ngọc H - Chủ hộ kinh doanh Trần Ngọc H về các yêu cầu gồm yêu cầu trả lãi của tiền mua bán tài sản 81.279.000 đồng; yêu cầu ông Đ liên đới trả tiền mua bán tài sản 81.279.000 đồng; yêu cầu anh S, ông Đ, bà K liên đới trả tiền mua bán tài sản 5.296.000 đồng; yêu cầu anh S, ông Đ, bà K liên đới trả tiền vay 80.000.000 đồng.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị N về yêu cầu anh S, bà K trả số tiền 15.060.000 đồng và yêu cầu ông Đ liên đới trả nợ vay.
Về án phí:
Buộc anh Lê Trường S, bà Hồ Thị Kiều C án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 7.311.000 đồng.
Trả cho ông Trần Ngọc H - Chủ hộ kinh doanh Trần Ngọc H tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.481.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004333 ngày 15/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
Bà Đinh Thị N được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí dân sự sơ thẩm do là người cao tuổi.
Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Xuân Nữ |
Bản án số 94/2024/DS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 94/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRANH CHẤP HĐ VAY TÀI SẢN, HĐ MUA BÁN TÀI SẢN, HKD TRẦN NGỌC HỒ - LÊ THÀNH ĐÔNG
