|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 94/2024/HS-ST Ngày: 15/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thùy
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Minh Trinh
- Ông Đặng Công Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Tương Vy, Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu - số C đường L, quận H, thành phố Đà Nẵng tiến hành phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa 58/2024/TB-TA ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Hồ Đức B
(tên gọi khác: Không) - Sinh ngày: 05/5/1987. Tại thành phố Đà Nẵng. Nơi ĐKHKTT: 152 L, tổ A, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở: P Tòa nhà C Chung cư A tầng K, tổ F, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông Cha: Lê Chí B1 (sinh năm 1953 - chết), mẹ: Hồ Thị O (sinh năm: 1960, sống); Gia đình có 04 anh, em. Bị cáo là con thứ 02; Vợ Võ Hồng N, sinh năm 1989 có 03 con lớn nhất sinh năm 2013 nhỏ nhất sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo hiện đang chấp hành lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.
* Bị hại: Ông Đinh Quang M - Sinh năm 1983. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 1 T, phường N, thị xã S, thành phố Hà Nội. Địa chỉ hiện nay: A H, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trước đây, Lê Hồ Đức B làm việc tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản thành phố Đ, đến tháng 10/2022 thì bị cho thôi việc. Trong năm 2020, B là người làm hồ sơ đấu giá lắp máy bán hàng tự động tại Bệnh viện Sản nhi thành phố Đ cho anh Đinh Quang M nên hai bên có quen biết.
Sáng ngày 11.02.2023, anh M nghĩ B vẫn còn làm việc tại Trung tâm đấu giá nên liên hệ hỏi về việc đấu giá lắp đặt máy bán hàng tự động tại Bệnh viện Đ. Lúc này, B đã nghỉ việc, không có thông tin gì về việc đấu giá nhưng do cần tiền trả nợ, B nảy sinh ý định lừa anh M để chiếm đoạt tài sản nên giả vờ hứa hẹn giúp. Khoảng 19 giờ cùng ngày, B nói dối với anh M là đã liên hệ với chị Phạm Thị Tâm B2 (sinh năm: 1979; trú: 07 H, P. Hòa Cường B, Q. H, TP .) - là Kế toán trưởng của Bệnh viện Đ và trong tháng 3 năm 2023 sẽ triển khai việc đấu giá lắp đặt máy bán hàng tự động. B2 yêu cầu anh M đưa 50.000.000 đồng để B2 lo cho anh M được trúng đấu giá, anh M tưởng thật nên đồng ý. Khoảng 15 giờ ngày 13.02.2023, tại quán cà phê “Finn Hub” - số A P, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng, B2 tiếp tục hứa hẹn nên anh M đã chuyển 50.000.000 đồng vào tài khoản số 6905051987, Ngân hàng V của B2. B2 đã lấy toàn bộ số tiền này trả nợ. Sau đó, anh M nhiều lần hỏi về việc đấu giá nhưng B2 giả vờ hứa hẹn rồi xoá tài khoản Z và chặn mọi liên lạc với anh M. Ngày 29.11.2023, anh M phát hiện bị lừa nên gửi đơn tố cáo đến Cơ quan CSĐT Công an quận H.
Vật chứng tạm giữ:
- 36 tờ giấy A4 in hình ảnh tin nhắn zalo giữa B2 và anh M về việc B2 yêu cầu anh M chuyển 50.000.000 đồng để anh M được trúng đấu giá.
- Hình ảnh chuyển khoản 50.000.000 đồng qua ứng dụng Internet banking từ tài khoản ngân hàng V1 đến số tài khoản 6905051987 ngân hàng V của B2.
- Sao kê chi tiết giao dịch trong ngày 20.02.2023 của số tài khoản 6905051987 ngân hàng V của B2 và số tài khoản 0009983111983 của ngân hàng V1 của anh M, thể hiện có việc anh M đã chuyển 50.000.000 đồng cho B2.
Quá trình điều tra, Lê Hồ Đức B đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt tài sản như trên. Việc khai nhận của B phù hợp với lời khai của bị hại Đinh Quang M, người liên quan; vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Xử lý vật chứng: Lưu giữ theo hồ sơ vụ án:
- 36 tờ giấy A4, in hình ảnh tin nhắn zalo giữa B và anh M;
- Hình ảnh chuyển khoản 50.000.000 đồng qua ứng dụng Internet banking từ tài khoản ngân hàng V1 đến số tài khoản 6905051987 ngân hàng V của B;
- Sao kê chi tiết giao dịch trong ngày 20.02.2023 của số tài khoản 6905051987 ngân hàng V của B và số tài khoản 0009983111983 của ngân hàng V1 của anh M.
Về dân sự:
Lê Hồ Đức B đã bồi thường cho bị hại Đinh Quang M 20.000.000 đồng, anh M yêu cầu B bồi thường 30.000.000 đồng còn lại.
2
Với nội dung trên, tại Cáo trạng số 61/CT-VKSHC ngày 12.5.2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu đã truy tố: Lê Hồ Đức B về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Hồ Đức B khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
- + Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 174, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt: Bị cáo Lê Hồ Đức B từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- - Về hình phạt bổ sung: Không.
- - Về trách nhiệm dân sự: Bị hai yêu cầu bồi thường 30.000.000 nên đề nghị HĐXX buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hai theo yêu cầu.
- - Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thống nhất với nội dung cáo trạng đã truy tố và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên tòa, không có tranh luận gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện: Ngày 11.02.2023, anh Đinh Quang M liên hệ Lê Hồ Đức B để hỏi về việc đấu giá lắp đặt máy bán hàng tự động tại Bệnh viện Đ. Lúc này, B đã nghỉ việc tại Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản thành phố Đ và không có thông tin gì về việc đấu giá nhưng vẫn giả vờ hứa hẹn. Sau đó, B nói dối là đã liên hệ với chị Phạm Thị Tâm B2 (Kế toán trưởng của Bệnh viện Đ) nhờ giúp đỡ và yêu cầu anh M chuyển 50.000.000 đồng để lo việc. Khoảng 15 giờ ngày 13.02.2023, tại quán cà phê “Finn Hub” - Số A P, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng, B2 tiếp tục hứa hẹn, anh M tưởng thật nên đã chuyển cho B2 50.000.000 đồng. B2 đã lấy toàn bộ số tiền này trả nợ hết.
[3] Lời khai của bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ trong vụ án và các tài liệu chứng cứ khác. Hành vi phạm tội trên đây của bị cáo Lê Hồ Đức B đã phạm vào tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 50.000.000 đồng thuộc trường hợp định khung hình phạt “Chiếm đoạt tài sản trị
3
giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số 61/CT-VKSHC ngày 12.5.2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Đánh giá tính chất vụ án, vai trò, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân đối với bị cáo như sau:
[4.1] Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật nghiêm cấm. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do vậy, HĐXX thấy cần phải xử phạt bị cáo cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung.
[4.2] Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự.
[4.3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Hồ Đức B không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4.4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã thực hiện, bị cáo đã bồi thường cho bị hại 20.000.000 đồng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 sẽ được HĐXX xem xét để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt khi quyết định hình phạt.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay bị hại vắng mặt không có lý do nhưng các lời khai của bị hại cũng như các tài liệu thu thập có trong hồ vụ án đã thể hiện bị hại đã nhận lại 20.000.000 đồng và tiếp tục yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm 30.000.000 đồng nên cần buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho bị hại theo đúng quy định của pháp luật.
[7] Từ những nhận định trên, xét thấy lời luận tội của Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng về tội danh và áp dụng các điều luật là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị kết án, bị cáo phải bồi thường cho bị hại nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
4
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Hồ Đức B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Hồ Đức B 02 (hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
3. Áp Dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017: Buộc bị cáo Lê Hồ Đức B phải bồi thường cho bị hại là anh Đinh Quang M số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
4. Án phí: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Hồ Đức B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc T |
5
6
7
8
Bản án số 94/2024/HS-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 94/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Hồ Đức B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
