|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 94/2024/HS-ST Ngày: 02-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Đình Thành.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Kim Thành, ông Lê Ngọc Sử.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Bích Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Dũng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày từ ngày 26/6/2024 đến ngày 02/7/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 68/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
* Bị cáo:
Họ và tên: Trần Hữu L; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1983; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bon P, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; Nơi ở: ấp C, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Bảo vệ; Trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Hữu L1 – Sinh năm: 1958 và bà Nguyễn Thị T – Sinh năm: 1963 (Đã chết); Bị cáo có vợ tên Lê Thị A – Sinh năm 1983 và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2023 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
- Bà Thiều Thị T1 – Sinh năm: 1999 (Có mặt). Trú tại: ấp C, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
- Ông Nguyễn Sỹ L2 – Sinh năm: 1999 (Vắng mặt). Trú tại: Khu phố D, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Dương;
- Ông Nguyễn Đức N – Sinh năm: 1995 (Vắng mặt). Trú tại: Khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
- Ông Trần Võ Minh T2 – Sinh năm: 1992 (Vắng mặt). Trú tại: Khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
- Bà Quách Thị Thu H – Sinh năm: 1994 (Vắng mặt). Trú tại: Khu phố B, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
- Bà Nguyễn Thị Thúy V – Sinh năm: 2000 (Vắng mặt). Trú tại: Khu phố S, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
- Ông Điểu T3 – Sinh năm: 1990 (Vắng mặt). Trú tại: ấp S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
- Ông Nguyễn Xuân H1 – Sinh năm: 1986 (Vắng mặt). Trú tại: Khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
- Ông Nguyễn Văn Q – Sinh năm: 1967 (Vắng mặt). Trú tại: Khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 19/12/2023, bị cáo Trần Hữu L cùng với Thiều Thị T1, Nguyễn Sỹ L2 và người thanh niên tên T2 (không xác định được nhân thân lai lịch) cùng ngồi ăn uống tại quán “1991” thuộc phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Đồng thời, Nguyễn Đức N cũng đang ngồi ăn uống tại quán “568” thuộc phường T, thành phố Đ cùng với Trần Võ Minh T2, Quách Thu H và Nguyễn Thị Thúy V. Lúc này, N rủ H, T2 và V đi đến quán bar “N" thuộc khu phố S, phường T để chơi thì tất cả đồng ý. N gọi điện thoại rủ bị cáo L đến quán bar “New Latin” để chơi thì bị cáo L đồng ý và rủ thêm L2, T1 và T2 đi cùng. Khi nhóm của bị cáo L đến nơi thì gặp nhóm của N và cùng đi vào bàn Vip 12 của quán, lúc này T2 chưa vào bàn mà đi vào nhà vệ sinh. Tại bàn Vip 12 có bị cáo L, N, Minh T2, L2, V, T1 và H cùng ngồi chơi và nghe nhạc. Lúc này, Minh T2 đi mời bia các bàn bên cạnh còn N nói với bị cáo L “anh em mình uống bia thôi nha anh” thì bị cáo L trả lời “hình như thằng T2 có đồ (ma túy) ở đây rồi”, đồng thời T2 đi từ nhà vệ sinh ra và đưa cho bị cáo L tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng (Năm nghìn đồng) bên trong chứa ma túy Khay đã được xào sẵn thì bị cáo L cầm lấy và thấy bên trong có ma túy Khay nên đưa lại cho T2. Một lúc sau Minh T2 quay về bàn và có Điểu T3 là bạn của N tới ngồi chơi cùng. T2 (không rõ nhân thân lai lịch) bỏ tờ tiền bên trong chứa ma túy Khay lên mặt bàn Vip 12 thì bị cáo L cầm lấy đưa cho Trần Võ Minh T2 sử dụng với hình thức hít trực tiếp vào cơ thể. Sau khi sử dụng xong, Minh T2 để lại tờ tiền có chứa ma túy khay trên mặt bàn để những người trong bàn sử dụng. Một lúc sau, T2 đi về trước, trong bàn còn lại bị cáo L, Minh T2, N, V và T3 cùng nhau sử dụng ma túy. T1, L2 và H không sử dụng ma túy chỉ ngồi chơi. Đến khoảng 23 giờ 45 phút cùng ngày, lực lượng Công an tỉnh B và Công an thành phố Đ kiểm tra hành chính quán bar "" phát hiện bắt quả tang thu giữ trên mặt bàn “Vip 12” có 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng đựng ma túy Khay do L, Minh T2, N, V và T3 vừa sử dụng (Bút lục 34->38).
Tại bản Cáo trạng số 85/CT-VKS ngày 21/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài đã truy tố bị cáo Trần Hữu L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Hữu L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Hữu L từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Bị cáo Trần Hữu L thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát, lời trình bày của bị cáo tại phiên tòa và lời khai của những người làm chứng có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tại phiên tòa bị cáo Trần Hữu L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng số 85/CT-VKS ngày 21/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài đã truy tố bị cáo.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa thấy phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa thấy phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, phương tiện phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 23 giờ ngày 19/12/2023, bị cáo Trần Hữu L đã có hành vi trực tiếp nhận ma túy khay gói trong tờ tiền mệnh giá 5000 đồng từ một người thanh niên tên T2 (không rõ nhân thân lai lịch) để sử dụng, sau đó đưa cho Trần Võ Minh T2, Điểu T3, Nguyễn Đức N và Nguyễn Thị Thúy V cùng sử dụng tại bàn “Vip 12” của quán bar “N" thuộc khu phố S, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Hành vi của bị cáo Trần Hữu L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, quá trình thực hiện hành vi phạm tội bị cáo hoàn toàn làm chủ được hành vi của mình, bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật và sẽ bị pháp luật nghiêm trị. Bị cáo nhận thức được rằng ma túy là chất độc dược gây nghiện nên Nhà nước độc quyền quản lý và cấm tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép dưới bất kỳ hình thức nào, song để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân mà bị cáo đã bất chấp pháp luật thực hiện hành vi phạm tội. Bản thân bị cáo có một tiền sự, ngày 06/4/2021 bị cáo bị Công an huyện Đ, tỉnh Đắk Nông xử phạt số tiền 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi ngàn đồng) về hành vi “đánh nhau” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 06/QĐ-XPVPHC, điều này chứng tỏ bị cáo cũng là người rất coi thường pháp luật. Vì vậy cần phải xét xử bị cáo Trần Hữu L một mức án tù có thời hạn nghiêm để tiếp tục răn đe, giáo dục bị cáo trong môi trường có sự quản lý của Nhà nước, để sau khi chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống, bị cáo biết tôn trọng pháp luật và cũng là để làm tốt công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm nói chung.
Tuy nhiên cũng cần phải xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên cần phải áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo.
- Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Trần Hữu L là có căn cứ pháp luật. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa về những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của ông Nguyễn Đức N, ông Điểu T3, ông Trần Võ Minh T2, ông Nguyễn Sỹ L2 và bà Nguyễn Thị Thúy V. Ngày 26/01/2024 và ngày 20/3/2024 Công an thành phố Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với N, T3, T2, L2 và V mỗi người 1.500.000 đồng là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xử lý.
- Đối với bà Thiều Thị T1 và bà Quách Thị Thu H là người có mặt tại bàn “Vip 12” của quán bar "". Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ xác định T1 và H không có vai trò đồng phạm trong vụ án nên Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xử lý.
- Đối với người thanh niên tên T2 (không rõ nhân thân, lai lịch) có hành vi đưa ma túy cho bị cáo Trần Hữu L. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ chưa xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau nên Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xử lý trong vụ án này.
- Đối với ông Nguyễn Xuân H2 (chủ quán bar "), quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ xác định ông H2 không biết việc bị cáo Trần Hữu L thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại quán bar N” nên Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xử lý.
- Về vật chứng:
- - Đối với 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng và 01 (Một) tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng quấn tròn bằng một đầu lọc thuốc lá. Đây là phương tiện được bị cáo Trần Hữu L dùng vào việc phạm tội nên cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- - Đối với 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu vàng đồng, đã qua sử dụng, bị vỡ mặt lưng là tài sản của bị cáo Trần Hữu L không liên quan đến vụ án nên cần tuyên trả lại cho bị cáo L.
- Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Trần Hữu L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 50; s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Hữu L 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 20/12/2023.
- Về vật chứng:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
- - Tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng và 01 (Một) tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng quấn tròn bằng một đầu lọc thuốc lá.
- - Tuyên trả lại cho bị cáo Trần Hữu L 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu vàng đồng, đã qua sử dụng, bị vỡ mặt lưng.
(Số vật chứng trên đã được chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0002266, Quyển số 0046 ngày 11/6/2024 giữa Công an thành phố Đ với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài).
- Về án phí:
Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Bị cáo Trần Hữu L có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa CAO ĐÌNH THÀNH |
Bản án số 94/2024/HS-ST ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 94/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Trần Hữu Lương phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
