|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 TỈNH AN GIANG Bản án số: 94/2025/HS-ST Ngày: 04/12/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đinh Quang Tuyến
Ông Ngô Rạng Đông - Nguyên Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Phú Quốc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thuỷ - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 2 - An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Khương Hoài Thương - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - An Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 76/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2025, đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Trần Quốc C, sinh ngày 30/5/2008 tại P, Kiên Giang. ĐKTT: Khóm T, phường T, tỉnh An Giang; Chỗ ở: Khu phố A D, đặc khu P, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Thanh H, sinh năm 1983 và bà Nguyễn Thị Út M, sinh năm 1991; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt.
2/ Họ và tên: Lê Văn N, sinh ngày 06/02/2004 tại P, Kiên Giang. ĐKTT: Không có đăng ký thường trú; Chỗ ở: Khu phố I D, đặc khu P, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Văn T, sinh năm 1977 và bà Lê Thị T1, sinh năm 1974; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 lần. Ngày 27/6/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc tuyên phạt 01 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự theo Bản án hình sự sơ thẩm số 100/2024/HSST. Ngày 26/7/2024, chấp hành xong hình phạt tù chưa được xóa án tích; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt.
3/ Họ và tên: Trần Lợi L, sinh ngày 01/12/2007 tại P, Kiên Giang. ĐKTT: Khu phố A D, đặc khu P, tỉnh An Giang; Chỗ ở: Khu phố A D, đặc khu P, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Lương Văn T2, sinh năm 1977 và bà Trần Thị Kim T3, không rõ năm sinh; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt.
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Quốc C: Ông Trần Thanh H, sinh năm 1983 (Có mặt).
Địa chỉ: Khu phố A D, đặc khu P, tỉnh An Giang.
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Lợi L: Ông Lương Văn T2, sinh năm 1977 (Có mặt).
Địa chỉ: Khu phố A D, đặc khu P, tỉnh An Giang.
* Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Trần Quốc C và bị cáo Trần Lợi L: Ông Trần K - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm T6 tỉnh An Giang (Có mặt).
* Người bị hại: Ông Nguyễn Anh V, sinh ngày 19/4/2007 (Có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Khu phố B C, đặc khu P, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 02 giờ ngày 25/6/2025, Trần Lợi L cùng với L1, N1 (chưa rõ nhân thân) uống bia tại quán nhậu thuộc khu phố E, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (nay là khu phố E D, đặc khu P, tỉnh An Giang); cùng lúc này trong quán còn có Nguyễn Anh V uống bia cùng với T4, Hữu N2 (chưa rõ nhân thân). Đến khoảng 04 giờ cùng ngày, V đi ra ngoài lên xe mô tô chuẩn bị về thì N1 đi ra, nói với V “nãy giờ ngồi nhậu mày nhìn tao cái gì”, thì hai bên phát sinh mâu thuẫn cự cãi qua lại. V điều khiển xe đi, ghé quán cơm trên đường H (không nhớ quán) lấy một cây kéo, cán bọc nhựa màu đen, mũi kéo bằng kim loại, chiều dài kéo khoảng 20cm, cầm trên tay quay lại quán nhậu chửi, đe dọa Nịch thì được T4, Hữu N2 can ngăn. Sau đó, L điều khiển xe mô tô hiệu WAVE, không rõ biển số (xe L mượn của bạn tên T5 không rõ nhân thân) chở L1, N1 đi về. Đến khoảng 04 giờ 30 phút cùng ngày, khi L về đến ngã tư giao nhau giữa đường H và đường H thuộc khu phố E, phường D thì thấy V điều khiển xe mô tô hiệu EXCITER, không rõ biển số (xe Vũ mượn của bạn tên Đ không rõ nhân thân) chạy phía sau, nên L dừng xe cản đường làm V bị té ngã nhưng không bị thương tích. V liền đứng dậy, cầm kéo định rượt L, L1, N1 thì được Hữu N2 can ngăn. Cùng lúc này, Huỳnh Thanh Q điều khiển xe mô tô hiệu BOSS, biển số 68P6-2052 của Q chở Trần Quốc C đi công việc, khi chạy đến khu vực ngã tư nhìn thấy nhóm của L, L1, N1 là bạn của C đang xảy ra cự cãi với V thì dừng xe đi đến. Lê Văn N điều khiển xe mô tô hiệu VISON, không rõ biển số (xe N mượn của bạn tên N3 không rõ nhân thân) chở bạn gái tên Kim Thị Yến N4 đi làm về, khi đến khu vực ngã tư nhìn thấy nhóm của L1, N1 là bạn của N đang xảy ra cự cãi với V thì cũng dừng xe đi đến. Lúc này, trên tay V đang cầm kéo, nhào tới định tấn công L1 thì bị té ngã làm rơi cây kéo xuống đường, gần vị trí của C đứng, C nhặt cây kéo lên cầm phần đầu lưỡi kéo trên tay, nhào vào dùng kéo đâm liên tục nhiều nhát vào vùng cánh tay phải, vùng lưng, vùng hố chậu và mông phải của V gây thương tích; cùng lúc này, L dùng tay đánh 02 cái vào lưng, 01 cái vào bụng của V; Lê Văn N dùng tay đánh 01 cái vào vai phải V, tiếp tục nhặt cây gậy hốt rác bằng nhựa đánh 01 cái vào lưng V; L1 nhặt cây lau nhà bằng kim loại đánh 01 cái vào đầu, 01 cái vào người V gây thương tích; N1 dùng tay đánh 02 cái vào người V. Do bị C, L, N, L1, N1 đánh và bị đâm nên V ngã xuống đường, thì nhóm của C không đánh nữa và bỏ đi về. V được đưa đến Trung tâm y tế thành phố P cấp cứu, điều trị. Đến ngày 27/6/2025 C, N, L đến Cơ quan Công an đầu thú. Ngày 02/7/2025 Trần Quốc C, Lê Văn N, Trần Lợi L bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A khởi tố, tạm giam để điều tra.
* Tang vật thu giữ:
- 01 (một) USB màu đen, hiệu K1, dung lượng 02GB, bên trong chứa dữ liệu điện tử (video) đã được niêm phong, đưa vào hồ sơ vụ án.
- 01 (một) xe môtô hiệu BOSS, loại SB8, màu nâu, biển kiểm soát 68P6-2052 (đã qua sử dụng).
- 01 (một) áo thun cổ tròn màu đen, trên ngực áo và vai lưng có họa tiết màu trắng cùng 01 (một) quần thun dài màu đen, hai bên ống quần có đường kẻ màu trắng, đã qua sử dụng.
- 01 (một) áo thun cổ tròn màu đen, phần ngực áo có họa tiết hình tròn màu trắng có ghi chữ “RALENCIAGA PARIS FRANCL” cùng 01 (một) quần thun dài màu đen đã qua sử dụng.
- 01 (một) áo thun màu đen, có đường kẻ màu hồng, phía trước áo có ghi chữ “11B1 XBTO” cùng 01 (một) quần thun ngắn màu đen, đã qua sử dụng.
Đối với 01 cây kéo, 01 cây gậy hốt rác, 01 cây lau nhà, sau khi gây án bị C, N, L1 ném bỏ. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã truy tìm nhưng không thu hồi được.
Đối với xe mô tô do Lê Văn N và Trần Lợi L điều khiển không phải chủ sỡ hữu của N và L, mặt khác lúc đầu điều khiển xe không phải đi đánh nhau nên không thu giữ.
* Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 11/KLTTCT-PY, ngày 18/8/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh A đối với Nguyễn Anh V, sinh năm 2007, trú tại Khu phố B, đặc khu P, tỉnh An Giang, kết luận:
1. Các kết quả chính:
- Kết quả khám giám định: Sẹo phần mềm vùng đỉnh, cánh tay phải (2 vết), lưng trái (7 vết), lưng phải (11 vết), hố chậu phải và mông phải (2 vết).
- Kết quả cận lâm sàng: Không thấy hình ảnh bất thường.
2. Kết luận:
2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định y tế tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Anh V tại thời điểm giám định là 20% (hai mươi phần trăm), áp dụng phương pháp cộng Thông tư.
2.2. Vật gây thương tích: Vật có cạnh sắc hoặc sắc nhọn gây nên.
Bản cáo trạng số 06/CT-VKSKV2 ngày 20 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - An Giang truy tố các bị cáo Trần Quốc C, Lê Văn N, Trần Lợi L, về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị HĐXX áp dụng:
- - Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự và Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên.
- - Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- - Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự và Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Tuyên phạt bị cáo Trần Quốc C mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Áp dụng Điều 56 BLHS, tổng hợp hình phạt 09 tháng tù của Bản án số 54/2025/HSST ngày 26/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - An Giang đối với bị cáo.
Tuyên phạt bị cáo Lê Văn N mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Tuyên phạt bị cáo Trần Lợi L mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù.
Áp dụng Điều 56 BLHS, tổng hợp hình phạt 06 tháng tù của Bản án số 62/2025/HSST ngày 15/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy ra, các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại Nguyễn Anh V tổng số tiền 8.000.000 đồng, bị hại V không yêu cầu bồi thường gì thêm, đề nghị không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Các vật chứng còn lại của vụ án đề nghị xử lý theo quy định tại Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS.
* Người bào chữa cho bị cáo Trần Quốc C và bị cáo Trần Lợi L- Ông Trần K trình bày: Thống nhất với cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - An Giang truy tố bị cáo C và bị cáo L về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS nhưng mong HĐXX xem xét các bị cáo không có tình tiết tăng nặng nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại theo quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS. Khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên. Do bị cáo C và bị cáo L có đến 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng nên đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS, tuyên phạt hai bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
* Bị hại Nguyễn Anh V có đơn xin vắng mặt như tại đơn xin vắng mặt đề nghị HĐXX xử bị cáo theo quy định pháp luật. Về trách nhiệm dân sự, bị hại V cho rằng các bị cáo đã bồi thường xong, nay không có yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm.
Lời nói sau cùng của các bị cáo trước khi HĐXX vào nghị án: Bị cáo ăn năn hối cải mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - An Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đánh giá chứng cứ:
a) Các bị cáo thừa nhận:
Vào khoảng 04 giờ 30 phút ngày 25/6/2025, tại đoạn đường giao nhau giữa đường H và đường H thuộc khu phố E D, đặc khu P, tỉnh An Giang, dù không mâu thuẫn gì với Nguyễn Anh V nhưng bị cáo Trần Quốc C cầm kéo phần đầu lưỡi đâm nhiều nhát vào cánh tay phải, lưng trái, lưng phải, hố chậu phải và mông phải của bị hại Nguyễn Anh V. Bị cáo Trần Lợi L dùng tay đánh 02 cái vào lưng, 01 cái vào bụng của bị hại V. Bị cáo Lê Văn N dùng tay đánh 01 cái vào vai phải và dùng cây gậy hốt rác đánh 01 cái vào lưng bị hại V; L1 cầm cây lau nhà đánh 01 cái vào đầu, 01 cái vào người V; N1 dùng tay đánh 02 cái vào người bị hại V gây thương tích.
b) Vật chứng thu giữ gồm: 01 USB, 01 xe môtô hiệu BOSS, 03 áo thun, 03 quần thun. Tất cả đều đã qua sử dụng.
d) Qua lời khai của bị hại Nguyễn Anh V xác định thương tích trên người bị hại do bị cáo Trần Quốc C, bị cáo Lê Văn N và bị cáo Trần Lợi L cùng các đối tượng tên L1 và N1 dùng kéo đâm, dùng tay, chân và gậy hốt rác đánh nhiều cái vào người. Qua kết luận giám định, tỷ lệ thương tích của bị hại tổng cộng là 20%.
Từ các chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử nhận định lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, kết luận giám định, vật chứng vụ án cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ để kết luận bị cáo C đã dùng kéo mũi nhọn đâm nhiều cái vào người bị hại, bị cáo N cùng bị cáo L và N1, L1 dùng tay, chân, gậy hốt rác bằng nhựa đánh nhiều cái vào người bị hại gây thương tích. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - An Giang đã truy tố các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Quốc C và bị cáo Trần Lợi L không có tình tiết tăng nặng. Riêng bị cáo Lê Văn N có tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS vì có 01 tiền án về tội “Gây tối trật tự công cộng” chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đã đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại xong nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.
[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:
Giữa bị cáo C, bị cáo N với bị hại không có mâu thuẫn nhưng bị cáo N đã nhặt kéo mũi nhọn đâm nhiều nhát vào người bị hại và bị cáo N dùng tay và gậy hốt rác nhựa đánh nhiều cái vào người bị hại. Đối với bị cáo bị cáo L cũng không có mâu thuẫn gì với bị hại nhưng vẫn dùng tay đánh vào lưng và bụng của bị hại. Đây là hành vi cố ý dùng vũ lực gây thương tích cho bị hại, xâm phạm đến sức khoẻ của bị hại một cách trái pháp luật, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong nhân dân, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương nên cần xử phạt các bị cáo mức án tương xứng. Tuy nhiên, xét thấy khi phạm tội bị cáo C và bị cáo L chưa đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát và một phần quan điểm của ông K, xử bị mức án mức án theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là thỏa đáng.
[5] Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát: Tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và trách nhiệm dân sự mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.
[6] Về quan điểm của người bào chữa chỉ định cho bị cáo C và bị cáo L: Xét thấy các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà ông K đề nghị đối với 02 bị cáo là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận. Riêng về đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS của ông K là chưa phù hợp nên không chấp nhận.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy ra, gia đình của các bị cáo đã bồi thường cho bị hại 8.000.000 đồng. Nay bị hại không yêu cầu bồi thường thêm bất cứ khoản nào khác nên HĐXX không xem xét.
[8] Về xử lý vật chứng: Các vật chứng còn lại của vụ án là vật chứng các bị cáo dùng khi thực hiện tội phạm nay không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại khoản 1 Điều 47 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[9] Về các vấn đề khác:
Đối với đối tượng tên L1, N1 chưa rõ nhân thân, Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Vì các lẽ trên:
[1] Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 91, Điều 101 BLHS; Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên; Điều 56 BLHS.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Quốc C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Quốc C 02 năm 06 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 09 tháng tù của Quyết định thi hành án hình phạt tù số 94/2025/QĐ-CA ngày 27/10/2025 của Chánh án Tòa án nhân dân khu vực 2 - An Giang buộc bị cáo phải chấp hành chung hình phạt là 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 27/6/2025.
- Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 BLHS.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn N 02 (hai) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 27/6/2025.
- Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 91, Điều 101 BLHS; Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên; Điều 56 BLHS.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Lợi L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Lợi L 01 năm 03 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 06 tháng tù của Quyết định thi hành án hình phạt tù số 127/2025/QĐ-CA ngày 20/5/2025 của Chánh án Tòa án nhân dân khu vực 2 - An Giang buộc bị cáo phải chấp hành chung hình phạt là 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 27/6/2025.
[2]. Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã bồi thường cho bị hại xong, nay bị hại không có yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không xem xét.
[3]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng sau:
- 01 áo thun cổ tròn màu đen, trên ngực áo và vai lưng có họa tiết màu trắng cùng 01 quần thun dài màu đen, hai bên ống quần có đường kẻ màu trắng, đã qua sử dụng;
- 01 áo thun cổ tròn màu đen, phần ngực áo có họa tiết hình tròn màu trắng có ghi chữ “RALENCIAGA PARIS FRANCL” cùng 01 quần thun dài màu đen đã qua sử dụng;
- 01 áo thun màu đen, có đường kẻ màu hồng, phía trước áo có ghi chữ “11B1 XBTO” cùng 01 quần thun ngắn màu đen, đã qua sử dụng.
(Theo quyết định chuyển giao vật chứng số 04/QĐ-VKSKV2 ngày 20 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - An Giang).
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự.
[5] Về quyền kháng cáo:
Báo cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Quốc C và bị cáo Trần Lợi L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Trang |
Bản án số 94/2025/HS-ST ngày 04/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 TỈNH AN GIANG về hình sự - cố ý gây thương tích
- Số bản án: 94/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cố ý gây thương tích
