Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2024/HS-ST

Ngày 20 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hải

Ông Nguyễn Văn Dương

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Ánh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Duyến – Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 75/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2024/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Vi Văn H, sinh ngày 05 tháng 6 năm 1980 tại xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú: thôn P, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Tân P (liệt sỹ) và bà Cầm Thị T; có vợ là Lò Thị T1 (đã ly hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2010.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30/01/2024, Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thị xã N. Có mặt.

-Bị hại: Ông Lê Cao T2, sinh năm 1958 (đã chết)

Cháu Nguyễn Anh T3, sinh năm 2019 (đã chết)

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

+ Anh Lê Cao N, sinh năm 1994 (là con trai của bị hại Lê Cao T2)

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã P, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

+ Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1966 (Ông nội cháu T3) Vắng mặt.

Nơi cư trú: TDP Đ, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Chị Lê Hồng L, sinh năm 1978. Có mặt.

Nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vi Văn H, sinh năm 1980, trú tại thôn P, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, có giấy phép lái xe hạng C, hiện đang hợp đồng lái xe ô tô cho bà Lê Hồng L, sinh năm 1978, trú tại thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (BL 189->191).

Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 27/11/2023, Vi Văn H điều khiển xe ô tô tải, biển kiểm soát 36C - 316.72 của bà L lưu thông trên đường T, theo hướng từ phường M đi phường H, đây là đoạn đường được rải thảm nhựa bằng phẳng, có dải phân cách cố định chia thành hai phần đường xe chạy riêng biệt, mỗi phần đường rộng 6,7m và không có vạch sơn phân chia làn đường. Khi đi đến ngã tư giao nhau với đường Bà T5 thuộc địa phận tổ dân phố Đ, phường H, thị xã N, do không giảm tốc độ khi đi vào khu vực ngã tư đường giao nhau để có thể dừng lại một cách an toàn và không nhường đường cho phương tiện đi từ bên phải đến nên xe ô tô do H điều khiển đã đâm vào xe mô tô BKS 36C1 - 149.28 do ông Lê Cao T2, sinh năm 1958, trú tại thôn Đ, xã P, thị xã N điều khiển chở sau là cháu Nguyễn Anh T3, sinh năm 2019, trú tại tổ dân phố Đ, phường H, N, Thanh H1 đang đi từ bên phải đường Bà T5 tới theo hướng từ phường H đi phường T, xảy ra tai nạn giao thông. Hậu quả, ông T2, cháu T3 bị hất ngã xuống đường; T3 bị hàng lốp thứ hai phía ngoài bên trái xe ô tô do Huế điều khiển đè qua chết tại chỗ; ông T2 bị thương và chết trên đường đi cấp cứu; xe mô tô ông T2 điều khiển bị húc đổ xuống đường bị hư hỏng.

Tại Bản kết luận giám định số 4442/KLGĐTT-PC09 ngày 08/12/2023, Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Nguyên nhân chết của cháu Nguyễn Anh T3 do bị "Đa chấn thương” (BL 112->113).

Đối với ông Lê Cao T2, do gia đình kiên quyết từ chối giải phẫu và khai quật tử thi, vì vậy Cơ quan điều tra phải Trưng cầu giám định nguyên nhân chết của ông T2 qua hồ sơ. Tại Kết luận giám định số 4443/KLGĐTT-PC09 ngày 08/12/2023, phòng K Công an tỉnh T không kết luận được nguyên nhân chết của ông T2 (BL 138). Tuy nhiên, qua xác minh tại gia đình, địa phương và cơ sở y tế, xác định từ trước đến khi bị tại nạn giao thông ông Lê Cao T2 không có tiền sử bệnh ác tính hay mãn tính nên chưa từng đi điều trị tại cơ sở y tế nào, ông T2 hoàn toàn khỏe mạnh trước khi bị tai nạn giao thông. Vì vậy, đủ căn cứ xác định, ông Lê Cao T2 tử vong là do tai nạn giao thông nêu trên gây ra, không còn nguyên nhân nào khác.

Tại Bản kết luận giám định số 4455/KL-KTHS ngày 11/12/2023, Phòng K Công an tỉnh T kết luận (BL 63->64):

"1. Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện: Mặt trước ba-đờ-sốc trước, mặt trước ốp nhựa biển số trước cách thành xe bên trái 79cm xe ôtô BKS 36C- 316.72 (ảnh 5, 6, 7) với mặt ngoài ốp nhựa bên trái thân xe môtô BKS 36C1-149.28..

2. Tại thời điểm va chạm xe ôtô BKS 36C – 316.72 có hướng gần vuông góc, từ trái qua phải so với hướng chuyển động của xe môtô BKS 36C1 – 149.28.

3. Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trước đầu vết cà xước (3) được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, thuộc phần đường bên phải hướng phường M đi Q, trong khu vực ngã tư giao nhau giữa đường T với đường Bà T5.

4. Không đủ cơ sở xác định vận tốc của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra va chạm."

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N đã trưng cầu giám định GEN (ADN) đối với mẫu vật là các vật chất bám dính trên lốp xe ô tô BKS 36C-316.72 và mẫu máu của nạn nhân Nguyễn Anh T3 được thẩm thấu vào mảnh khăn.

Tại Bản kết luận giám định về gen (ADN) số 8930/KL-KTHS ngày 05/01/2024, V Bộ C1 kết luận (BL 224->225):

"1. Mẫu ghi thu tại hàng lốp thứ hai từ trên xuống phía ngoài, bên trái xe ô tô BKS: 36C-316.72 là máu người, tổ chức cơ thể người và là của Nguyễn Anh T3 (SN2019, thường trú tại tổ dân phố Đ, phường H, thị xã N, Thanh Hóa).

2. Lưu kiểu gen (ADN) phân tích được tại V- Bộ C1."

Tại Kết luận giám định về gen (ADN) số 8932/KL-KTHS ngày 05/01/2024, V Bộ C1 kết luận (BL 237->238):

"1. Dấu vết nghi tế bào người ghi thu tại vị trí vô lăng của xe ôtô BKS: 36C-316.72 có ADN người, không phân tích được kiểu gen (ADN) do chất lượng dấu vết kém.

2. Lưu kiểu gen (ADN) của Vi Văn H tại V- Bộ C1."

Tại Bản kết luận giám định số 4466/KL-KTHS ngày 12/12/2023, Phòng K Công an tỉnh T kết luận (BL 200):

"Mẫu máu của Vi Văn H, sinh năm 1980, trú tại P, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa niêm phong gửi giám định không có cồn."

Tại Bản kết luận giám định số 4394/KL-KTHS ngày 07/12/2023, Phòng K Công an tỉnh T kết luận (BL 211):

"Không tìm thấy chất ma tuý, loại: MDA, MDMA, Amphetamine, Ketamine, Methamphetamine trong mẫu nước tiểu ghi thu của Vi Văn H gửi đến giám định."

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 09/01/2024, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND thị xã N kết luận: Thiệt hại đối với mô tô BKS 36C1- 149.28 do tai nạn gây ra là 665.000 đồng (BL 252).

Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ:

  • - 01 xe ô tô BKS 36C - 316.72 kèm theo các giấy tờ xe liên quan và 01 giấy phép lái xe hạng C của Vi Văn H;
  • - 01 xe mô tô BKS 36C1-149.28 kèm theo các giấy tờ xe liên quan;

Sau khi tiến hành khám nghiệm và làm rõ nguồn gốc phương tiện, giấy tờ đã thu giữ, xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô và các giấy tờ xe cho chủ phương tiện là bà Lê Hồng L; trả lại chiếc xe mô tô và giấy tờ liên quan cho đại diện của người bị hại là anh Lê Cao N.

Đối với giấy phép lái xe hạng C mang tên Vi Văn H được đưa vào hồ sơ vụ án, chờ xử lý theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo và chủ phương tiện xe ôtô BKS 36C - 316.72 đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại Lê Cao T2Nguyễn Anh T3. Đại diện gia đình người bị hại không có yêu cầu, đề nghị thêm về dân sự.

Tại bản Cáo trạng số 102/CT-VKSNS, ngày 27/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn đã truy tố Vi Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s, x khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố Vi Văn H phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Đề nghị xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 21 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt từ tính từ ngày tạm giam, ngày 30/01/2024.

Về hình phạt bổ sung:

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về bồi thường thiệt hại:

Bị cáo đã bồi thường cho đại diện gia đình các bị hại, đại diện gia đình các bị hại không yêu cầu bồi thường thêm, nên không xem xét.

Đối với thiệt hại của xe mô tô BKS 36C1-149.28, gia đình bị hại không yêu cầu nên không xem xét.

- Xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ôtô và các giấy tờ xe cho chủ phương tiện là bà Lê Hồng L; trả lại chiếc xe môtô và giấy tờ cho đại diện của người bị hại là anh Lê Cao N. Các vật chứng trên Cơ quan CSĐT xử lý đúng quy định của pháp luật nên không xem xét.

Trả lại cho Vi Văn H 01 giấy phép lái xe hạng C.

-Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, bị cáo không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Người đại diện hợp pháp của bị hại Lê Cao T2 đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm. Chị Lê Hồng L không có yêu cầu, đề nghị gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Căn cứ định tội, định khung hình phạt đối với bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 16 giờ 00 phút, ngày 27/11/2023, tại ngã tư giao nhau giữa đường T với đường Bà T5 thuộc tổ dân phố Đ, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, Vi Văn H (có giấy phép lái xe hạng C) điều khiển xe ôtô tải BKS 36C - 316.72 đã không chú ý quan sát, giảm tốc độ khi vào nơi đường giao nhau để có thể dừng lại một cách an toàn và không nhường đường cho xe đi từ bên phải tới nên đã đâm vào xe môtô BKS 36C1-149.28 do ông Lê Cao T2, sinh năm 1958, trú tại thôn Đ, xã P, thị xã N điều khiển chở phía sau là cháu Nguyễn Anh T3, sinh năm 2019, trú tại tổ dân phố Đ, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, xảy ra tai nạn giao thông làm cháu T3 bị bánh xe ôtô đè qua chết tại chỗ do đa chấn thương, ông T2 bị thương và chết trên đường đi cấp cứu.

Nguyên nhân xảy ra tai nạn là do lỗi của Vi Văn H không giảm tốc độ, không nhường đường cho xe đi đến từ bên phải, hành vi của Vi Văn H vi phạm khoản 2 Điều 12 Luật giao thông đường bộ quy định về tốc độ xe, được cụ thể hóa tại khoản 3 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G và khoản 1 Điều 24 Luật giao thông đường bộ làm chết 02 người. Vì vậy, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ và gây thiệt hại đến tính mạng của người khác. Hành vi này cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục, trừng trị bị cáo và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người có nhân thân tốt.

Bị cáo không có tiền án, tiền sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình các bị hại; bị cáo là con của liệt sỹ; người đại diện của các bị hại đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s, x khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự

[5] Về bồi thường thiệt hại: bị cáo và chủ phương tiện xe ôtô BKS 36C-316.72 là chị Lê Hồng L đã bồi thường cho gia đình bị hại Lê Cao T2 số tiền 170.000.000 đồng, bồi thường cho gia đình bị hại Nguyễn Anh T3 số tiền 220.000.000 đồng; đại diện của các bị hại đã nhận số tiền trên, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm. Đối với những hư hỏng của xe môtô BKS 36C1- 149.28, đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường; chị Lê Hồng L không có yêu cầu đề nghị gì, nên HĐXX không xem xét.

[6] Quyết định hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: HĐXX xét thấy bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, làm chết 02 người, nên cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định để giáo dục bị cáo ý thức chấp hành pháp luật và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt do bị cáo là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên cần thiết áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp của khung hình phạt để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo.

[7] Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Xử lý vật chứng:

  • - Xe ôtô BKS 36C - 316.72 kèm theo các giấy tờ xe liên quan Cơ quan CSĐT Công an thị xã N đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Lê Hồng L.
  • - Đối với xe mô tô BKS 36C1-149.28 kèm theo các giấy tờ xe liên quan, Cơ quan CSĐT đã trả lại chiếc xe mô tô và giấy tờ cho đại diện của người bị hại là anh Lê Cao Năm
  • Các vật chứng trên, Cơ quan CSĐT Công an thị xã N đã xử lý đúng quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Đối với 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 18/6/2020 cho Vi Văn H còn giá trị sử dụng; Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo nên trả lại giấy phép lái xe này cho bị cáo là phù hợp.

[9] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s, x khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố Vi Văn H, phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
  2. Xử phạt Vi Văn H 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30 tháng 01 năm 2024.
  3. Về bồi thường thiệt hại: Công nhận bị cáo và chủ phương tiện xe ôtô BKS 36C - 316.72 chị Lê Hồng L đã bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại Lê Cao T2 số tiền 170.000.000 đồng, bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Anh T3 số tiền 220.000.000 đồng.
  4. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 18/6/2020.
  5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Quyền kháng cáo: bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - CQCSĐT CA thị xã Nghi Sơn;
  • - THADS thị xã Nghi Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Người đại diện của bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 94/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 94/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger