Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2024/HNGĐ-ST

Ngày 19/7/2024.

“V/v ly hôn, tranh chấp về con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Công Định

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lãnh Văn Việt

Ông Nguyễn Tất Bẩy

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Chung – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà:

Ông Hoàng Thành Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 103/2024/TLST-HNGD ngày 06 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2024/ QĐXX -HNGD ngày 18 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 42/2024/QĐST-HNGD ngày 04 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lương Thị M, sinh năm 1988 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn F, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị đơn: Anh Hoàng Văn H, sinh năm 1989 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 22/02/2024, những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Lương Thị M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hoàng Văn H kết hôn với nhau từ ngày 09/6/2011 đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Trước khi kết hôn anh chị đã được tự nguyện tìm hiểu, không bị ai ép buộc. Sau kết hôn chị về nhà anh H tại thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang làm dâu ngay. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng cuối năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, hay cãi nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm. Năm 2014 chị bỏ về ở với mẹ đẻ tại thôn F, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, vợ chồng chị ly thân từ đó cho đến nay. Chị xác định tình nghĩa vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã căng thẳng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể duy trì cuộc sống hôn nhân được nữa. Chị yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn H.

Về con chung: Chị Lương Thị M xác định vợ chồng có 01 con chung là Hoàng Thị H1 (đã cải tên là Lương Thị H2), sinh ngày 02/8/2011, hiện cháu đang ở cùng anh H. Sau khi ly hôn chị M có nguyện vọng để anh H nuôi dưỡng con chung, không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị và anh H không có tài sản chung, không liên quan đến vay nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Hoàng Văn H vắng mặt tại nơi cư trú; Tòa án giao thông báo về việc thụ lý vụ án, các giấy triệu tập, thông báo phiên họp và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử giao cho gia đình anh H để anh H biết đến làm việc tại Tòa án; tuy gia đình anh H đã thông báo bằng điện thoại cho anh H biết nhưng anh H không chấp hành đến làm việc và cố tình dấu địa chỉ, nên Tòa án không thu thập được lời khai của anh H.

Tại biên bản làm việc ngày 08/5/2024, ông Hoàng Văn N là bố đẻ anh H cho biết: Toà án gửi Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập anh H đến Toà án làm việc ông đã thông báo cho anh H, anh H phản hồi: Anh bận đi làm không về được, anh đồng ý ly hôn chị M, anh nhận là người trực tiếp nuôi con chung là Hoàng Thị H1 (đã cải tên là Lương Thị H2), sinh ngày 02/8/2011. Anh và chị M không có tài sản chung, nợ chung. Ông N xác định vợ chồng anh H, chị M có mâu thuẫn và đã ly thân và không có khả năng đoàn tụ.

Tại biên bản xác minh ngày 08/5/2024, ông Nông Văn H3 - Phó chủ tịch UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang cung cấp: Chị M và anh H đăng ký kết hôn tại địa phương khác, có về thôn B, xã T sinh sống. Sau đó xảy ra mâu thuẫn và chị M đã không còn sinh sống tại địa phương gần chục năm trở lại đây. Anh H là lao động tự do, đã có nhà và vẫn là người trực tiếp nuôi cháu H2 từ khi chị M và anh H ly thân nên theo địa phương xác định anh H đủ điều kiện nuôi con chung.

Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Lương Thị M có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Vì vậy Hội đồng xét xử công bố lời khai của chị Lương Thị M trong quá trình giải quyết vụ án.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án và ý kiến về thủ tục tố tụng của Toà án trong quá trình thụ lý cũng như giải quyết vụ án và sự chấp hành pháp luật của các đương sự theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

- Áp dụng khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 28; Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 3; 6; 26; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lương Thị M được ly hôn với anh Hoàng Văn H.

- Về quan hệ con chung: Giao cho anh Hoàng Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Hoàng Thị H1 (đã cải tên là Lương Thị H2), sinh ngày 02/8/2011. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn, chị Lương Thị M có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

- Về tài sản và công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về án phí: Chị Lương Thị M phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Lương Thị M khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết ly hôn và con chung với anh Hoàng Văn H có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn B, xã T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ tranh chấp ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

[2] Về tố tụng: Nguyên đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Chị Lương Thị M và anh Hoàng Văn H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk ngày 09/6/2011, như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Lương Thị M và anh Hoàng Văn H là hợp pháp. Phía chị Lương Thị M xác định vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, hay cãi nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm và vợ chồng đã ly thân. Phía anh Hoàng Văn H đã được Tòa án gặp làm việc tuy nhiên anh H không hợp tác làm việc và không đưa ra quan điểm ý kiến. Qua làm việc với bố đẻ anh H là ông N thì xác định vợ chồng chị M, anh H có mâu thuẫn còn cụ thể mâu thuẫn như thế nào thì ông N không rõ, hiện chị M đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, chị M, anh H đã ly thân, gia đình cũng khuyên bảo nhưng cả chị M, anh H vẫn không đoàn tụ được. HĐXX thấy: Thực tế chị M và anh H không còn quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau, không sống chung cùng nhau là không đảm bảo theo Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, có căn cứ xác định hôn nhân giữa chị M và anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị M, xử cho chị Lương Thị M được ly hôn anh Hoàng Văn H.

[4] Về con chung: Vợ chồng chị Lương Thị M và anh Hoàng Văn H có 01 con chung là Hoàng Thị H1 (đã cải tên là Lương Thị H2), sinh ngày 02/8/2011. Hiện con chung đang ở cùng anh H. Phía chị M có nguyện vọng để anh H là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết. Phía anh H không có ý kiến gì về con chung. Xét nguyện vọng của chị M, HĐXX thấy: Hiện con chung đang ở cùng anh H, để tránh việc xáo trộn môi trường sống, học tập của cháu H1 thì ý kiến của chị M đưa ra là có căn cứ chấp nhận theo Điều 81 Luật hôn nhân gia đình. Do đó, giao con chung là Hoàng Thị H1 (đã cải tên là Lương Thị H2), sinh ngày 02/8/2011 cho anh Hoàng Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Việc cấp dưỡng nuôi con do chị M và anh H không yêu cầu nên không đặt ra xem xét. Sau khi ly hôn chị Lương Thị M có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

[5] Về tài sản chung, công nợ chung: Lương Thị M xác định vợ chồng không có tài sản chung, không Mai quan vay nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Vì vậy Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Chị Lương Thị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 28; Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 3; 6; 26; 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị M.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lương Thị M được ly hôn với anh Hoàng Văn H.

- Về quan hệ con chung: Giao cho anh Hoàng Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Hoàng Thị H1 (đã cải tên là Lương Thị H2), sinh ngày 02/8/2011. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn, chị Lương Thị M có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

- Về tài sản và công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.

2. Về án phí: Chị Lương Thị M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng chẵn) án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Lương Thị M đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006030 ngày 06/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn. Khoản tiền này được chuyển thành án phí, xác nhận chị M đã nộp đủ.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản được niêm yết công khai./.

Nơi nhận:

- VKSND huyện Lục Ngạn;

- TAND tỉnh Bắc Giang;

- THADS huyện Lục Ngạn;

- Đương sự;

- UBND xã xã Cư ELang, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk;

- Lưu hồ sơ, Văn phòng.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đặng Công Định

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 94/2024/HNGĐ-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về con chung

  • Số bản án: 94/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lương THị M - Hoàng Văn H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger