Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 94/2024/HNGĐ-ST

Ngày 19-4-2024

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Hà

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Đỗ Xuân Quyết

Ông Phạm Mạnh Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hinh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý 307/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2023 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 293/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2024/QÐST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Thị H; nơi ĐKHKTT: Thôn D, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện tại: T, T, Đ, Đài Loan; vắng mặt;

- Bị đơn: Anh Trần Hữu L; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn là chị Phan Thị H trình bày:

Chị Phan Thị H và anh Trần Hữu L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 20/01/2010. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà mẹ đẻ chị H ở thôn D, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa được 06 đến 08 tháng thì anh L bảo về quê có việc. Từ đó chị H cũng không liên lạc với anh L nữa. Chị i đã về Hải Phòng để tìm anh L nhưng anh L tránh mặt chị H, không cho chị H biết lý do. Đến nay đã hơn 11 năm chị H và anh L không gặp nhau. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Phan Thị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn với anh Trần Hữu L để sớm ổn định cuộc sống.

Về con chung: Chị H và anh L không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Trần Hữu L trình bày: Trước đây, anh Trần Hữu L và chị Phan Thị H có thời gian tìm hiểu tuy nhiên anh L không đăng ký kết hôn với chị Phạm Thị H1 nên không có quan hệ nào về mặt pháp lý đối với chị H1. Anh L khẳng định chữ ký, chữ viết trong Giấy chứng nhận kết hôn chị H1 giao nộp cho Tòa án không phải là chữ ký, chữ viết của anh L. Anh L có đăng ký kết hôn với chị Nguyễn Thị T tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng vào năm 2012.

Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ như sau:

Quá trình giải quyết vụ án, chị Phan Thị H có đơn yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định đối với chữ ký, chữ viết của anh Trần Hữu L trong Giấy chứng nhận kết hôn ngày 20/01/2010 của Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Tòa án đã thực hiện việc trưng cầu giám định chữ ký chữ viết của anh L trong Giấy chứng nhận kết hôn so với chữ ký, chữ viết của anh L tại biên bản lấy lời khai của Tòa án. Tại Kết luận giám định số 393/KL-KTHS ngày 23/02/2024 của Phòng K, Công an thành phố H kết luận: Chữ ký, chữ viết tại mục “Chữ ký của chồng” mang tên Trành Hữu L1 trên mẫu cần giám định so với chữ ký, chữ viết mang tên Trần Hữu L trên các mẫu so sánh do cùng một người ký và viết ra.

Theo công văn trả lời của Ủy ban nhân dân thị trấn P (trước đây là xã C), huyện C, tỉnh Thanh Hóa thể hiện: Tại trang số 08, sổ đăng ký kết hôn năm 2010 lưu giữ tại UBND thị trấn P, huyện C, tỉnh Thanh Hóa thể hiện anh Trần Hữu L và chị Phan Thị H có đăng ký kết hôn, được ghi tên trong sổ.

Theo công văn trả lời của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng thể hiện: Tại trang số 125, số vào sổ 140/2012 sổ gốc đăng ký kết hôn năm 2012 thể hiện anh Trần Hữu L có đăng ký kết hôn với chị Nguyễn Thị T vào ngày 24/10/2012.

Chị Trần Thị Ngọc A là em gái ruột của anh Trần Hữu L trình bày: Hiện nay, anh Trần Hữu L có vợ là chị Nguyễn Thị T và có hai con chung với chị T, cùng chung sống tại Thôn T, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng. Chị không nắm được việc anh L có quan hệ hôn nhân với ai tên là Phan Thị H. Chị không biết chị Phan Thị H, không thấy chị H chung sống với anh L tại địa phương bao giờ. Đối với yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh L, chị đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Phan Thị H được ly hôn anh Trần Hữu L. Về con chung: Chị Phan Thị H và anh Trần Hữu L không có con chung nên đề nghị không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung, chị Phan Thị H không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Ngoài ra đề nghị giải quyết về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Phan Thị H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Trần Hữu L. Anh Trần Hữu L có nơi cư trú ở thành phố Hải Phòng, chị Phan Thị H đang sinh sống tại Đài Loan. Do đó quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39 điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Chị Phan Thị H có đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Trần Hữu L được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện: Chị Phan Thị H và anh Trần Hữu L có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 20/01/2010, được ghi vào trang số 08, sổ đăng ký kết hôn năm 2010 lưu trữ tại Ủy ban nhân dân thị trấn P (trước đây là xã C), huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Anh L xác nhận không đăng ký kết hôn với chị H; chữ ký, chữ viết trong giấy chứng nhận kết hôn không phải là chữ ký, chữ viết của anh L.

[4] Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện: Tại Giấy chứng nhận kết hôn, phần ký tên của người chồng, anh L có ký “Lành” và ghi họ tên là “Trành Hữu L1”. Tuy nhiên, phần thông tin bên trên ghi rõ họ tên của anh L1 là “Trần Hữu L”. Họ tên, ngày tháng năm sinh, địa chỉ và số chứng minh thư nhân dân anh L dùng đăng ký kết hôn với chị H trùng với họ tên, ngày tháng năm sinh, địa chỉ, số chứng minh thư nhân dân mà anh L dùng để đăng ký kết hôn với chị Nguyễn Thị T. Mặt khác, tại Kết luận giám định của Phòng K, Công an thành phố H thể hiện: Chữ ký, chữ viết tại mục “Chữ ký của chồng” mang tên Trành Hữu L1 trên mẫu cần giám định so với chữ ký, chữ viết mang tên Trần Hữu L trên các mẫu so sánh (bản tự khai, văn bản trả lời, đơn đề nghị của anh Trần Hữu L) do cùng một người ký và viết ra. Việc anh L khai không ký, viết vào giấy chứng nhận kết hôn là không có căn cứ. Như vậy, căn cứ vào Điều 9, Điều 10 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, quan hệ hôn nhân giữa anh Trần Hữu L và chị Phan Thị H là hợp pháp.

[5] Căn cứ vào lời khai của anh L và em gái của anh L nhận thấy giữa anh L và chị H hiện nay không chung sống cùng nhau, anh L hiện có vợ là chị Nguyễn Thị T và có 02 con chung với chị T. Chị H trình bày chị không gặp và không liên lạc với anh L hơn 11 năm nay, khẳng định không còn tình cảm với anh L, mục đích hôn nhân giữa anh chị không đạt được. Như vậy, thực tế giữa anh L và chị H không tồn tại cuộc sống hôn nhân, hiện anh L đã có gia đình riêng nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Phan Thị H về việc xin ly hôn với anh Trần Hữu L.

[6] Về việc anh Trần Hữu L có đăng ký kết hôn với chị Nguyễn Thị T tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng trong khi anh L vẫn đang có quan hệ hôn nhân hợp pháp với chị Phan Thị H: Do các đương sự trong vụ án không ai có yêu cầu giải quyết quan hệ hôn nhân này, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Song, cần kiến nghị Ủy ban nhân dân xã ĐỦy ban nhân dân huyện A xem xét trình tự thủ tục đăng ký kết hôn giữa anh Trần Hữu L và chị Nguyễn Thị T.

[7] Về con chung: Chị Phan Thị H xác nhận chị và anh Trần Hữu L không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

[8] Về tài sản chung: Chị Phan Thị H không yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[9] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Phan Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Chị Phan Thị H và anh Trần Hữu L được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị H.
    1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị H được ly hôn anh Trần Hữu L.
    2. Về con chung: Chị Phan Thị H xác nhận chị và anh Trần Hữu L không có con chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
    3. Về tài sản chung: Chị Phan Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  2. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Phan Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000262 ngày 17 tháng 10 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Phan Thị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo:

    Chị Phan Thị H (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Anh Trần Hữu L (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP. Hải Phòng;
  • - UBND thị trấn Phong Sơn, huyện Cẩm
  • Thủy, tỉnh Thanh Hóa;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: HCTP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thúy Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 94/2024/HNGĐ-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn

  • Số bản án: 94/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger