Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CAI LẬY

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 94/2023/HS-ST

Ngày: 17-11-2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Cẩm Loan

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Huỳnh Ngọc Trứ
  2. Ông Trần Văn Tám

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Tín – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy tham gia phiên tòa: Ông Đặng Duy Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 82/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa ra vụ án xét xử số 84/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Nguyễn Duy T, sinh ngày 03 tháng 11 năm 1991 tại: tỉnh Tiền Giang.

Tên thường gọi: T cổ lùn.

Trú tại: khu phố B, phường C, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

Dân tộc: Kinh.

Quốc tịch: Việt Nam.

Tôn giáo: Không

Nghề nghiệp: không.

Trình độ học vấn: 4/12.Giới tính: Nam

Con ông: Nguyễn Văn S, sinh năm 1954 và bà: Trần Thị B, sinh năm 1955;

Bị cáo có 01 con sinh năm 2020.

Tiền án: không.

Tiền sự: 01 lần. Ngày 15/9/2020 bị Toà án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện

bắt buộc trong thời gian 18 tháng theo Quyết định số 86/2020/QĐ-TA. Chấp hành xong ngày 09/11/2021.

Đặc điểm nhân thân:

  • + Ngày 01/3/2010 bị Toà án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xử 02 năm tù về tội cướp giật tài sản theo bản án số 14/2010/HSST. Chấp hành xong ngày 08/9/2011.
  • + Ngày 26/6/2012 bị Toà án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang xử 04 năm tù về tội cướp giật tài sản theo bản án số 20/2012/HSST. Ngày 22/11/2012 bị Toà án nhân dân huyện Cai Lậy xử 03 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo bản án số 111/2012/HSST. Tổng hợp 02 bản án là 07 năm 06 tháng tù, bị cáo đã chấp hành xong.
  • + Ngày 21/5/2018 bị Ủy ban nhân dân phường C2, thị xã C ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, trong thời gian 03 tháng, đã chấp hành xong.
  • + Ngày 02/02/2023 bị Công an thị xã C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý số tiền 1.500.000 đồng theo Quyết định số 11/QĐ-XPHC. Đã chấp hành xong.
  • + Ngày 20/3/2023 bị Công an phường C3, thị xã C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý với hình thức cảnh cáo theo Quyết định số 06/QĐ-XPHC. Đã chấp hành xong.
  • + Ngày 29/3/2023 bị Ủy ban nhân dân phường C2, thị xã C ra Quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý theo Quyết định số 94/QĐ-UBND.
  • + Ngày 06/4/2023 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C, tỉnh Tiền Giang khởi tố về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã C, tỉnh Tiền Giang, về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2/ Họ và tên: Hồ Thanh N, sinh ngày 20 tháng 5 năm 1986 tại tỉnh Tiền Giang.

Tên thường gọi: Ba Đen.

Trú tại: khu phố B, phường A, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

Dân tộc: Kinh.

Quốc tịch: Việt Nam.

Tôn giáo: Không

Nghề nghiệp: không.

Trình độ học vấn: 10/12.Giới tính: Nam

Con ông: Hồ Văn M, sinh năm 1963 và bà: Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh năm 1965;

Vợ: Đặng Hoàng T1, sinh năm 1991, Con: có 04 người con, lớn nhất sinh năm 2007 nhỏ nhất sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: không.

Đặc điểm nhân thân: Ngày 23/9/2014 bị Toà án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xử 09 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma tuý theo bản án số 17/2014/HSST. Chấp hành xong ngày 11/01/2020.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/6/2023, chuyển tạm giam ngày 17/6/2023.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Công ty Cổ phần V (vắng mặt);

Địa chỉ: Số F phố T, phường T, Quận H, Thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Xuân H. Chức vụ: Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1973. Chức danh: Cán bộ kỷ thuật. Địa chỉ: 1 H, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (theo Giấy ủy quyền ngày 15/6/2023).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1983 (vắng mặt);
  2. Địa chỉ: ấp T, xã D, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

  3. Lê Văn R, sinh năm 1986 (vắng mặt);
  4. Địa chỉ: ấp T, xã T, Thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

  5. Lê Văn Q, sinh năm 1986 (vắng mặt);
  6. Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn M, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

  7. Nguyễn Văn C1, sinh năm 1976 (có mặt);
  8. Địa chỉ: Ấp P, xã P, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

  9. Nguyễn Đăng K, sinh năm 1988 (có mặt);
  10. Địa chỉ: Ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Duy T, bị cáo Hồ Thanh N và Nguyễn Khánh T2 có quan hệ bạn bè ngoài xã hội. Trong khoảng thời gian tháng 01 năm 2023 bị cáo T, bị cáo N và Nguyễn Khánh T2 đã thực hiện hành vi phạm tội như sau:

Vụ thứ nhất:

Khoảng giữa tháng 01 năm 2023, bị cáo Nguyễn Duy T đến Bệnh viện Đ1 thăm bạn đang điều trị bệnh, trong lúc đi ngang phòng chứa các bộ máy điều hòa, do công trình thi công Bệnh viện Đ1 chưa xong nên các bộ máy điều hoà được để trong một phòng không khoá cửa, không người trông coi nên bị cáo T nảy sinh ý định lấy trộm máy điều hoà bán tiêu xài cá nhân. Khoảng 20 giờ cùng ngày, bị cáo T điều khiển xe mô tô loại Dream biển số 63K1 - 5240 đến gửi tại nhà xe Bệnh viện, đi bộ vào phòng chứa máy điều hòa, lúc này phòng không có khoá cửa, không người trông coi nên bị cáo T khiêng 01 thùng (cục nóng) đi ra nhưng do thùng máy (cục N1) nặng không khiêng được nên bị cáo T gọi điện thoại cho Nguyễn Khánh T2 kêu T2 vào khiêng phụ và chỉ chỗ cho T2 điều khiển xe mô tô Wave (không rõ biển số) đến cổng phụ bên hông Bệnh viện. Khi đến cổng phụ Bệnh viện, T2 đứng bên ngoài cảnh giới, bị cáo T lấy xe cút kít (xe rùa) có sẵn khiêng 01 thùng (cục nóng) lên xe và đẩy lại vị trí cổng phụ chuyển ra ngoài cho T2, bị cáo T tiếp tục quay lại khiêng 01 thùng (cục lạnh) trở ra cổng phụ chuyền qua hàng rào cho T2. Sau đó, bị cáo T và T2 mỗi người chở một thùng máy điều hoà về nhà của bị cáo Hồ Thanh N đang thuê ở tại khu phố A, phường D, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. Khi đến nhà của bị cáo N, nghe tiếng kêu cửa nên bị cáo N thức dậy mở cửa cho bị cáo T và T2 đẩy xe vào nhà. Bị cáo N hỏi T: “máy lạnh từ đâu có”, bị cáo T trả lời: “lấy trộm trong Bệnh viện”, bị cáo T, T2 và bị cáo N khiêng 02 bộ máy điều hòa xuống xe đem vào bên trong nhà bị cáo N giấu. Bị cáo T kêu bị cáo N: “kiếm chỗ bán máy lạnh” thì bị cáo N đồng ý gọi điện người quen bán nhưng không bán được nên cất giấu bộ máy điều hòa tại đây.

Khoảng 02 ngày sau, bị cáo T gọi điện cho Nguyễn Đăng K (Hai D nói Khoa kiếm chỗ bán máy lạnh dùm, máy lạnh mới mua trả góp thì K đồng ý và gọi cho Nguyễn Văn Đ hỏi mua máy lạnh không thì Đ thống nhất mua. Khoảng 14 giờ ngày hôm sau, K gọi điện thông báo giá mua bán bộ máy điều hòa cho bị cáo T biết là 8.000.000 đồng thì bị cáo T đồng ý bán. Bị cáo T cùng T2 và bị cáo N khiêng bộ máy điều hòa lên xe Dream của bị cáo T, theo K dẫn đường, bị cáo T và

T2 chở bộ máy điều hòa đến nhà Đ bán cho Đ được 8.000.000 đồng. Trên đường về bị cáo T cho K 500.000 đồng, tại nhà bị cáo N thì bị cáo T chia cho T2 khoảng 3.000.000 đồng, chia cho bị cáo N khoảng 2.000.000 đồng, số tiền còn lại bị cáo T cất giữ và tiêu xài cá nhân.

Vụ thứ hai:

Khoảng 24 giờ ngày 20/01/2023 (29 tết âm lịch 2023), bị cáo Nguyễn Duy T chạy xe mô tô loại Dream biển số 63K1 - 5240 đến gửi tại nhà xe Bệnh viện Đ1 rồi đi vào phòng chứa máy điều hòa, bị cáo T khiêng thùng máy (cục N1) lên, do nặng không khiêng được nên bị cáo T gọi điện cho bị cáo Hồ Thanh N kêu vào Bệnh viện lấy trộm máy điều hoà thì bị cáo N đồng ý. Bị cáo T ra nhà xe Bệnh viện lấy xe chạy đến nhà bị cáo N chở bị cáo N đến cổng phụ bên hông Bệnh viện. Bị cáo T và bị cáo N trèo qua hàng rào đi lại phòng chứa máy điều hòa, bị cáo N khiêng thùng máy (cục lạnh) đem đến cổng phụ để tại đây. Bị cáo T lấy xe cút kít (xe rùa) có sẵn khiêng 01 thùng máy (cục nóng) lên xe cút kít để đẩy ra cổng phụ nhưng do bị cáo T đang phê ma tuý nên không khiêng qua hàng rào được nên bị cáo T lấy thanh sắt nại ổ khoá cửa bung ra rồi cùng bị cáo N khiêng bộ máy điều hoà ra ngoài cửa, cùng lúc này T2 gọi điện thoại hỏi bị cáo N “đang ở đâu, sao không có nhà” thì bị cáo N trả lời đang ở cổng phụ Bệnh viện thì T2 chạy xe mô tô loại Wave đến. Khi đến nơi, T2 khiêng 02 thùng máy (cục nóng + cục lạnh) lên xe mô tô cho bị cáo N, bị cáo T ngồi sau. Bị cáo N chạy xe chở bị cáo T cùng bộ máy điều hòa vừa lấy trộm được về nhà bị cáo N để đổi xe mô tô của bị cáo N biển số 52N4 -5516, tại nhà bị cáo N thì Trình phụ khiêng 02 thùng máy từ xe của bị cáo T đem qua xe của bị cáo N để chở đi bán. Lúc này bị cáo T gọi điện K hỏi: “anh bữa hổm có mua máy lạnh nữa không, mua trả góp bán lại kiếm lời”, K gọi điện cho Đ hỏi Đ cần mua máy điều hòa giống bữa trước không, Đ đồng ý mua bộ máy điều hoà giá 7.000.000 đồng. K gọi điện lại thông báo cho bị cáo T biết và dẫn đường cho bị cáo N điều khiển xe mô tô biển số 52N4 -5516 chở máy điều hòa và bị cáo T ngồi sau ôm. Tại nhà Đ, bị cáo T bán máy điều hòa cho Đ được 7.000.000 đồng, do Đ không đủ tiền nên đưa trước 1.000.000 đồng hẹn sáng đưa đủ. Khoảng 13 giờ ngày hôm sau, bị cáo T và K chạy xe đến nhà Đ lấy 6.000.000 đồng. Tiền bán máy điều hòa, bị cáo T cho K 500.000 đồng, chia Trình khoảng 2.000.000 đồng, chia bị cáo N 1.900.000 đồng, số tiền còn lại bị cáo T cất giữ và tiêu xài cá nhân hết.

Sau khi mua bộ máy lạnh xong, Nguyễn Văn Đ chia lại cho anh Lê Văn R là thợ gắn máy điều hòa cho Đ cũng giá 7.000.000 đồng. Sau đó, anh R bán bộ máy điều hòa này lại cho anh Lê Văn Q với giá 14.000.000 đồng. Khi Cơ quan điều tra làm việc, anh Q đồng ý giao nộp bộ máy điều hòa trên để phục vụ công tác điều tra.

Vật chứng thu giữ:

  • - 02 bộ máy điều hòa hiệu TOSHIBA mã hiệu RSA -18J2KVG -V + RSA - 18J2AVG-V.
  • - 01 (một) xe mô tô loại Dream biển số 63K1 - 5240.

Bản kết luận định giá tài sản số 48 ngày 15/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã C kết luận 02 bộ máy điều hòa hiệu TOSHIBA bị chiếm đoạt trị giá 33.600.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 85/CT-VKS ngày 04/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Nguyễn Duy T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự, truy tố bị cáo Hồ Thanh N về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 và khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa,

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã C trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Duy T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự, truy tố bị cáo Hồ Thanh N về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 và khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự và phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 173 và khoản 1 Điều 323; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Hồ Thanh N từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Các bị cáo không trình bày lời bào chữa. Nói lời nói sau cùng bị cáo trình bày biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

* Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo. Xét thấy:

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội trên của bị cáo cơ bản đã phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các lời khai trước đây của các bị cáo tại cơ quan điều tra, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận trong khoảng tháng 01 năm 2023, tại Bệnh viện Đ1 thuộc khu phố A, phường D, thị xã C, tỉnh Tiền Giang, bị cáo Nguyễn Duy T đã 02 lần trộm cắp 02 bộ máy điều hoà, tổng tài sản chiếm đoạt trị giá 33.600.000 đồng. Bị cáo Hồ Thanh N đã 01 lần trộm cắp 01 bộ máy điều hoà trị giá 16.800.000 đồng và có hành vi chứa chấp 01 bộ máy điều hòa biết rõ do bị cáo T trộm cắp mà có tại nhà thuê của mình thuộc khu phố A, phường D, thị xã C. Vì vậy đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Duy T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự, truy tố bị cáo Hồ Thanh N về tội “Trộm cắp

tài sản” và tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 và khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Xét thấy, các bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ sức khoẻ và khả năng nhận thức về hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo nhận thức được tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có là vi phạm pháp luật. Thế nhưng, chỉ vì muốn hưởng lợi không bằng sức lao động chính đáng của mình mà các bị cáo đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác.

Các bị cáo là người có nhân thân xấu, bị cáo T từng bị xử phạt hành chính nhiều lần về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và 02 lần bị xử phạt tù về hành vi cướp giật tài sản; bị cáo N từng bị xử phạt tù về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, các bị cáo vẫn không ăn năn hối cải, mà lại có hành vi phạm tội mới. Điều đó cho thấy các bị cáo là người có ý thức xem thường pháp luật. Hành vi phạm tội trên đây của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi của các bị cáo gây tư tưởng hoang mang trong nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, cũng như phòng ngừa chung cho các đối tượng khác.

Đối với hành vi trộm cắp tài sản, khi thực hiện hành vi phạm tội giữa các bị cáo không có sự câu kết chặc chẽ, nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Trong đồng phạm này, bị cáo Nguyễn Duy T là người khởi xướng việc phạm tội và trực tiếp thực hiện hành vi phạm, 02 lần trộm cắp 02 bộ máy điều hoà, tổng tài sản chiếm đoạt trị giá 33.600.000 đồng. Bị cáo Nghĩa là đồng phạm với vai trò giúp sức và thực hiện hành vi trộm cắp 01 bộ máy điều hoà trị giá 16.800.000 đồng nên phải chịu trách nhiệm với giá trị tài sản chiếm đoạt là 16.800.000 đồng. Do đó, tính chất, mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của bị cáo T là cao hơn bị cáo N nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc hơn bị cáo N. Bên cạnh đó, cũng cần áp dụng hinh phạt nghiêm khắc đối với hành vi chứa chấp 01 bộ máy điều hòa biết rõ do bị cáo T trộm cắp mà có tại nhà thuê của mình thuộc khu phố A, phường D, thị xã C của bị cáo N.

Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo Nguyễn Duy T có ông nội và mẹ ruột là người có công với cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội thuộc trường hợp phạm tội 02 lần theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4] Về xử lý vật chứng:

Ngày 15/6/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả cho Công ty CP V (đại diện theo ủy quyền là anh Nguyễn Văn C) 02 bộ máy điều hoà hiệu TOSHIBA đã bị chiếm đoạt là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với xe mô tô loại Dream biển số 63KI – 5240 mà bị cáo T sử dụng làm phương tiện phạm tội. Bị cáo T khai nhận cầm của một người bạn không rõ nhân thân, hiện Cơ quan điều tra chưa làm việc được chủ sở hữu nên tiếp tục tạm giữ để xác minh làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

[5] Quá trình điều tra bị can Nguyễn Khánh T2 bỏ trốn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C đã ra Quyết định truy nã và Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can. Khi nào bắt được sẽ phục hồi điều tra xử lý theo quy định.

Đối với anh Nguyễn Đăng K có hành vi liên hệ tìm người bán dùm 02 bộ máy điều hoà, Nguyễn Văn Đ, Lê Văn R và Lê Văn Q có hành vi mua 02 bộ máy điều hoà nhưng K, Đ, R và Q không biết 02 bộ máy điều hoà là do các bị cáo phạm tội mà có. Do đó, hành vi của K, Đ, R và Q không cấu thành tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Đặng Hoàng T1 là vợ của bị cáo Hồ Thanh N. Vào đêm bị cáo T và T2 chở bộ máy điều hòa lấy trộm tại Bệnh viện đến giấu tại nhà trọ thuê ở của N, T1 và việc N đi trộm bộ máy điều hoà tại Bệnh viện đem về nhà trọ sau đó mang đi tiêu thụ. Việc này T1 hoàn toàn không biết nên hành vi của T1 không cấu thành tội phạm.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn C là đại diện theo uỷ quyền của Công ty CP V đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường gì

về dân sự. Đối với Nguyễn Văn Đ, Lê Văn R, Lê Văn Q không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, trong trường hợp phát sinh tranh chấp về bồi thường số tiền này sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

[7] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.

* Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về Hình phạt

  • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
  • Xử: Phạt bị cáo Nguyễn Duy T 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bắt thi hành án.
  • - Tuyên bố bị cáo Hồ Thanh N phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự.
  • Xử: Phạt bị cáo Hồ Thanh N 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 323; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Xử: Phạt bị cáo Hồ Thanh N 06 (sáu) tháng tù về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.
  • - Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự.

Buộc bị cáo N phải chấp hành hình phạt chung là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 14/6/2023.

2. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Các bị cáo Nguyễn Duy T và Hồ Thanh N, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn C1, anh Nguyễn Đăng K có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn Đ, Lê Văn R, Lê Văn Q vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND Thị xã Cai Lậy;
  • - CQĐT Công an Thị xã Cai Lậy;
  • - Chi cục THADS Thị xã Cai Lậy;
  • - Nhà tạm giữ;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Cẩm Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 94/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG về trộm cắp tài sản và chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 94/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Duy T - Trộm cắp tài sản + Hồ Duy N chứa chấp tài sản do phạm tội mà có
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger