|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 94/2024/DS-ST Ngày: 17-7-2024 V/v “Tranh chấp về hợp đồng góp hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Đào
- Bà Trần Ánh Nhạn
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huỳnh Mai – Thư ký viên của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lâm Quốc Bảo – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 253/2024/TLST-DS, ngày 02 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp về hợp đồng góp hụi”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1970; Địa chỉ: ấp X, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh;
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Anh Hà Minh T, sinh năm 1988; Địa chỉ: Ấp R, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh – theo Hợp đồng uỷ quyền ngày 17-11-2023 do Văn phòng công chứng Nguyễn Đức T1 vào sổ số 007118, quyển số 11/2023TP/CC-SCC/HĐGD;
- Bị đơn:
- Bà Vương Thị T2, sinh năm 1968;
- Chị Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1992;
Cùng địa chỉ: ấp X, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị H trình bày:
Bà Lê Thị H, bà Vương Thị T2 và chị Nguyễn Thị Kim N là chỗ chòm xóm. Bà T2 là mẹ ruột của chị N có rủ bà H tham gia chơi hụi của bà, bà đồng ý nên đã tham gia chơi hụi cụ thể là Hụi 2.000.000 đồng/tháng, gồm 26 phần khui ngày 05-04-2021 (Dương lịch) hụi mãn ngày 05-08-2023 (có 03 tháng 8, 9, 10 năm 2021 không có đăng hụi), bà H có tham gia 01 phần, trong sổ hụi ghi tên “Liệp”. Trong quá trình khui hụi thì bà không có danh sách hụi viên vì không yêu cầu cầu bà T2 cung cấp, nhưng tổ chức khui hụi, gom hụi là do con bà T2 là chị N thực hiện.
Do hụi khui đến kỳ thứ 20 thì bà mẹ con bà T2 tuyên bố ngưng hụi, bà H có gọi điện thoại cho bà T2 thì bà T2 hứa về nhà bán tài sản sẽ trả lại cho bà H, nhưng, bà T2 không thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho bà, nên bà có yêu cầu bà T2 trả cho tôi số tiền hụi là 2.000.000 đồng x 20 kỳ = 40.000.000 đồng.
Do bà T2 và chị N vi phạm nghĩa vụ trả tiền hụi cho bà, nên bà khởi kiện yêu cầu bà Dương Thị T3 và chị Nguyễn Thị Kim N trả lại cho bà số tiền 40.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất.
Tại phiên tòa, bà H yêu cầu bà T3, chị N phải trả cho bà số tiền 30.000.000 đồng. Không yêu cầu tính lãi suất.
Tại bản tự khai 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Nguyễn Thị Kim N trình bày:
Chị N xác định chị là chủ hụi, bà Dương Thị T3 là mẹ của chị, sống chung nhà với chị nên có rủ các hụi viên tham gia chơi hụi của chị, và chị là người trực tiếp khui hụi, lập danh sách hụi viên, gom tiền hụi và đăng hụi, cụ thể bà H (tên L trong danh sách hụi viên) là người tham gia chơi hụi của chị loại hụi khởi sự khui ngày 05-4-2021 loại hụi 2.000.000 đồng/tháng gồm 26 phần, chết được 20 phần còn được 6 phần, nhưng do mấy năm dịch khó khăn có một số người hụi viên của dây khác không đóng. Chị N có chàng tiền hụi cho tới nên đến kỳ thứ 20 thì ngưng hụi và trong năm 2023 thì chị N tuyên bố bể hụi. Chị xác định bà T3 không liên quan. Theo nội dung khởi kiện của bà H chị thừa nhận đúng, nhưng chị xin được trả số tiền vốn lại cho chị H số tiền 21.750.000 (Hai mươi mốt triệu bảy trăm năm mươi nghìn) đồng.
Về diễn biến hụi cụ thể theo 20 phần hụi đã hốt như sau: Ngày 05-4-2021- chị “Phới” kêu hụi số tiền 450.000 đồng, số tiền phải đóng là 1.550.000 đồng; Tháng 5-2021 “N” kêu hụi số tiền 300.000 đồng, số tiền phải đóng là 1.700.000 đồng; Tháng 6-2021 “H1” kêu hụi số tiền 350.000 đồng, số tiền phải đóng là 1.650.000 đồng; Tháng 7-2021 “Hí” kêu hụi số tiền 650.000 đồng, số tiền phải đóng là 1.350.000 đồng;
Tháng 8, tháng 9, tháng 10 năm 2021 ngưng không khui hụi do dịch covid-19. Tháng 11-2021 khui hụi và “S” kêu hụi số tiền 700.000 đồng, số tiền phải đóng là 1.300.000 đồng; Tháng 12-2021 “Chị 3” kêu hụi số tiền 550.000 đồng, số tiền phải đóng là 1.450.000 đồng; Tháng 01-2022 “Chị 3” kêu hụi số tiền 700.000 đồng, số tiền phải đóng là 1.300.000 đồng; Tháng 02-2022 “Luyến” kêu hụi số tiền 650.000 đồng, số tiền phải đóng là 1.350.000 đồng; Tháng 3-2022 “Gương” kêu hụi số tiền 630.000 đồng, số tiền phải đóng là 1.370.000 đồng; Tháng 4-2022 “Đèo” kêu hụi số tiền 830.000 đồng, số tiền phải đóng là 1.170.000 đồng; Tháng 5-2022 “Luyến” kêu hụi số tiền 1.200.000 đồng, số tiền phải đóng là 800.000 đồng; Tháng 6-2022 “H1” kêu hụi số tiền 700.000 đồng, số tiền phải đóng là 1.300.000 đồng; Tháng 7-2022 “Sú” kêu hụi số tiền 830.000 đồng, số tiền phải đóng là 1.170.000 đồng; Tháng 8-2022 “Cu 7 Lem” kêu hụi số tiền 850.000 đồng, số tiền phải đóng là 1.150.000 đồng; Tháng 9-2022 “5 Dọc” kêu hụi số tiền 900.000 đồng, số tiền phải đóng là 1.100.000 đồng; Tháng 10-2022 “H2” kêu hụi số tiền 1.000.000 đồng, số tiền phải đóng là 1.000.000 đồng; Tháng 11-2022 “Cu 7 Lem” kêu hụi số tiền 1.500.000 đồng, số tiền phải đóng là 500.000 đồng; Tháng 12-2022 “vợ T4” kêu hụi số tiền 1.700.000 đồng, số tiền phải đóng là 300.000 đồng; Tháng 01-2023 “Mùng 6 Chúc” kêu hụi số tiền 1.860.000 đồng, số tiền phải đóng là 140.000 đồng; Tháng 02-2023 “Luồi” kêu hụi số tiền 1.900.000 đồng, số tiền phải đóng là 100.000 đồng. Tháng 3-2023 thì ngưng hụi.
Tại phiên tòa, chị N đồng ý trả cho bà T3 số tiền hụi 26.000.000 đồng, không đồng ý trả số tiền 30.000.000 đồng.
Tại bản tự khai đề ngày 20-5-2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Vương Thị T2 trình bày:
Bà là mẹ ruột của chị Nguyễn Thị Kim N. Đối với dây hụi mà bà Lê Thị H tham gia do chị Nguyễn Thị Kim N làm chủ thảo. Chị N là người trực tiếp đăng hụi và gom tiền hụi. Các việc đăng hụi thực hiện tại nhà riêng của chị N. Bà T2 không biết gì về các dây hụi của do chị N làm chủ thảo, nên không đồng ý yêu cầu của chị bà H.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự. Đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các điều 471 của Bộ luật Dân sự; Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19-02-2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” đối với chị Nguyễn Thị Kim N. Buộc chị Nguyễn Thị Kim N phải trả cho bà Lê Thị H số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” đối với bà Vương Thị T2.
Chị N phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H thấy rằng:
Qua thu thập chứng cứ cũng như tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Kim N xác định và thừa nhận chị là chủ hụi, bà Lê Thị H có tham gia góp hụi do chị làm chủ thảo loại hụi 2.000.000 đồng/tháng khui ngày 05-4-2021 gồm 26 phần, mãn ngày 05-8-2023, và chị là người trực tiếp lập danh sách hụi viên, tổ chức khui hụi ở mỗi kỳ, trực tiếp thu tiền hụi và đăng hụi cho hụi viên lĩnh hụi. Do chị N tuyên bố bể hụi nên không tiếp tục khui hụi và ngừng hụi từ sau kỳ khui hụi ngày 05-02-2023, bà H chưa hốt hụi và chị N không thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền hụi đã đóng vốn gốc và lãi hụi nên khởi kiện yêu cầu trả số tiền 40.000.000 đồng, tại phiên tòa yêu cầu trả số tiền 30.000.000 đồng. Ngược lại chị N đồng ý trả số tiền 26.000.000 đồng là chưa phù hợp bởi lẽ chị N thừa nhận trong dây hụi trên chị ngưng hụi do chị bị nợ người khác và phải cấn trừ hụi, không có hụi viên vi phạm nghĩa vụ đóng hụi đã lĩnh hụi và chị cũng là hụi viên đã lĩnh hụi nên chị không thể duy trì hụi cho đến kỳ mãn hụi đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của hụi viên chưa lãnh hụi là lỗi hoàn toàn của chị, vì vậy bà H yêu cầu phải trả số tiền 30.000.000 đồng gồm hụi vốn đã đóng và tiền lãi hụi là có căn cứ.
[2] Xét nghĩa vụ trả nợ cho bà Lê Thị H:
Bà H yêu cầu bà Vương Thị T2 và chị Nguyễn Thị Kim N có trách nhiệm trả nợ cho bà, ngược lại bà T2 không thừa nhận là chủ hụi, không phải là người trực tiếp tổ chức khui hụi, gom tiền hụi, lập danh sách hụi viên và chị N tự mình thừa nhận là chủ hụi, trực tiếp tổ chức khui hụi. Tại phiên tòa bà H cho rằng bà T2 là chủ hụi nhưng không cung cấp chứng cứ chứng minh, vì bà H yêu cầu bà T2 có trách nhiệm liên đới trả số tiền nợ hụi cho bà H là không cở sở chấp nhận.
[3] Xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát huyện G là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” đối với
chị Nguyễn Thị Kim N. Buộc chị Nguyễn Thị Kim N phải trả cho bà Lê Thị H số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H về việc yêu cầu bà Vương Thị T2 cùng có nghĩa vụ liên đới cùng chị Nguyễn Thị Kim N trả tiền hụi còn nợ.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án chị N phải chịu án phí, bà H không phải chịu án phí và được hoàn trả tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 471 của Bộ luật Dân sự; Điều 18, Điều 23 của Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19-02-2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H đối với chị Nguyễn Thị Kim N về việc “Tranh chấp về hợp đồng góp hụi”.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H về việc yêu cầu bà Vương Thị T2 cùng có nghĩa vụ liên đới cùng chị Nguyễn Thị Kim N trả tiền hụi còn nợ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Buộc chị Nguyễn Thị Kim N có nghĩa vụ bà Lê Thị H số tiền 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng, trong đó: tiền nợ hụi gốc là 21.750.000 (Hai mươi mốt triệu bảy trăm năm mươi nghìn) đồng và tiền lãi 8.300.000 (Tám triệu ba trăm nghìn) đồng.
Kể từ ngày bà Lê Thị H có đơn yêu cầu thi hành án, cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng chị Nguyễn Thị Kim N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
Chị Nguyễn Thị Kim N có nghĩa vụ chịu 1.500.000 (Một triệu năm trăm ngàn) đồng.
Bà Lê Thị H không phải chịu án phí và được hoàn trả tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.000.000 (Một triệu) đồng theo biên lai thu số 0013984, ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thuỳ Trang |
Bản án số 94/2024/DS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp về hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 94/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HIEP - TAM
