Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 94/2024/HS-ST

Ngày: 17-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Hiếu Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Huỳnh Hậu ;
  2. Bà Hà Thị Gái.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Sương – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Tuyết Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 88/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Lê Minh T (tên gọi khác: Không có), sinh ngày: 21/7/1985 tại tỉnh Trà Vinh; Giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp P, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi ở hiện tại: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông: Lê Minh T1 (chết) và bà: Nguyễn Thị Lan A (sinh năm 1948); Tiền án, tiền sự: Không có.

Nhân thân:

  • - Ngày 13/10/2015 bị Tòa án nhân dân Quận 10 áp dụng biện pháp xử lý cai nghiện đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 20 tháng theo Quyết định số 141/QĐ-CSCNBB-TA ngày 13/10/2015.
  • - Ngày 12/11/2019 bị Tòa án nhân dân Quận 7 xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 159/2019/HSST ngày 12/11/2019, chấp hành án đến ngày 04/3/2021 hết án tha, chấp hành xong án phí ngày 09/3/2020.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Phan Sơn V (tên gọi khác: Không có), sinh 11/5/1981 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A B, Phường H, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện tại: Không nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Không có; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông: Phan Hùng S (sinh năm 1954) và bà: Nguyễn Thị X (sinh năm 1955); Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/3/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Phú T2, sinh năm 1997 (vắng mặt).

Thường trú: Số A Đ, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Sơn V và Lê Minh T là bạn bè quen biết nhau từ trước. Khoảng 19 giờ ngày 26/3/2024, V gặp và rủ T đi uống cà phê tại khu vực đường D, Quận H. Tại đây, V rủ T điều khiển xe đi lòng vòng tìm người có tài sản sơ hở để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài và mua ma túy, T đồng ý. Tâm giao xe mô tô biển số 52H3-4597 cho V điều khiển chở T chạy lòng vòng qua nhiều tuyến đường để tìm cơ hội chiếm đoạt tài sản. Khoảng 20 giờ 50 phút cùng ngày, khi đến trước nhà số C S, Phường A, Quận A, cả hai nhìn thấy 01 chiếc loa kéo màu nâu vàng của anh Nguyễn Phú T2 để ở trước cửa nhà nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. V dừng xe lại và chỉ tay về phía chiếc loa. T xuống xe quan sát, đi bộ lại dùng tay kéo chiếc loa đi. Lúc này, anh Nguyễn Minh D chứng kiến toàn bộ sự việc nên truy hô. T bỏ lại chiếc loa và chạy bộ ra xe của V đang chờ sẵn định tẩu thoát. Cùng lúc này, có ông Nguyễn Phi H và Tổ công tác 363 Công an Q đang tuần tra phát hiện bắt giữ V, T cùng vật chứng giao cho Công an P, Quận A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q xử lý.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã yêu cầu định giá tài sản, tại Kết luận định giá tài sản số 594/KL-HĐĐGTS ngày 04/4/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận A1 xác định: “01 loa kéo hiệu jingzhan jz x15-8 trị giá 3.500.000 đồng”.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Minh T và Phan Sơn V khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của hai bị can phù hợp với biên bản kiểm tra camera ghi hình tại hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã thu thập được.

Vật chứng vụ án:

  • + 01 xe mô tô biển số 52H3-4597 có số khung: VDNFX8MBQ704982, số máy: FT704982, hai bị can sử dụng làm phương tiện phạm tội. Kết quả giám định số khung, số máy không thay đổi. Xác minh xe do ông Liêu Kế T3 đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Năm 2009, ông T3 bán xe cho 01 nam thanh niên tên C (không rõ lai lịch) với giá 2.000.000 đồng, hai bên không làm giấy tờ mua bán. T khai mua xe vào cuối năm 2023 của 01 người bạn tên C (không rõ lai lịch) với giá 2.000.000 đồng, T đã làm mất giấy tờ xe.
  • + 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A31, đã qua sử dụng, là tài sản cá nhân của bị can T; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, đã qua sử dụng, là tài sản cá nhân của bị can V – không liên quan đến việc phạm tội.
  • + 01 áo sơ mi tay dài sọc ca rô đỏ, 01 quần jeans dài màu trắng, 01 nón bảo hiểm màu xanh dương, 01 đôi giày da màu nâu - là trang phục bị can T mặc khi thực hiện hành vi phạm tội; 01 áo thun ngắn tay màu xanh dương đậm, 01 quần Kaki dài màu đen, 01 đôi dép màu đỏ, 01 nón kết có hoa văn sọc xanh đỏ, 01 nón bảo hiểm màu trắng sọc xanh lá - là trang phục bị can Vĩnh mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.

Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 có quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.

  • - 01 loa kéo hiệu jingzhan jz x15-8, là tài sản của anh Nguyễn Phú T2. Cơ quan điều tra đã trao trả lại tài sản cho anh T2.
  • - 01 đĩa DVD chứa dữ liệu camera ghi nhận hình ảnh Lê Minh T và Phan Sơn V thực hiện hành vi phạm tội. (Lưu cùng hồ sơ vụ án)

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Phú T2 không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Tại bản Cáo trạng số 84/CT-VKSQ10 ngày 06 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Lê Minh T, Phan Sơn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay:

  • - Các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, bị hại, nêu lên tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại của các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Lê Minh T mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (tháng) tù về tội “Trộm cắp tài sản”; phạt bổ sung từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Phan Sơn V mức án từ 06 (sáu) tháng đến 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.

- Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] ]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phan Sơn V và Lê Minh T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

[2] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:

Tại Cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của các bị cáo, đối chiếu với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Phan Sơn V và Lê Minh T đã có đồng thuận phân công nhiệm vụ cùng thực hiện hành vi lợi dụng sơ hở của người khác nhằm chiếm đoạt tài sản của bị hại với tổng giá trị là 3.500.000 đồng nên các bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Xét các bị cáo là người có năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình nhưng vì tham lam muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Xét đây là vụ án đồng phạm giản đơn có sự phân công. Bị cáo T là người trực tiếp thực hiện tội phạm; bị cáo V là người rủ rê, giúp sức bằng cách điều khiển xe máy tìm kiếm tài sản để chiếm đoạt, cảnh giới để Tâm thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, các bị cáo cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của mình gây ra, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương.

  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo T và V thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại nên áp dụng điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo V có thêm tình tiết phạm tội lần đầu và ít nghiêm trọng theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
  • - Về tình tiết tăng nặng: Không có.
  • - Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017), phạt bổ sung bị cáo T một khoản tiền nộp ngân sách Nhà nước.

[4] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

  • - 01 đĩa DVD chứa dữ liệu camera ghi nhận hình ảnh Lê Minh T và Phan Sơn V thực hiện hành vi phạm tội (kèm theo hồ sơ vụ án).
  • - 01 điện thoại di động hiệu S1 Galaxy A31, đã qua sử dụng, là tài sản cá nhân của bị can T; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, đã qua sử dụng, là tài sản cá nhân của bị can V – không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại.
  • - 01 áo sơ mi tay dài sọc ca rô đỏ, 01 quần jeans dài màu trắng, 01 nón bảo hiểm màu xanh dương, 01 đôi giày da màu nâu - là trang phục bị cáo T mặc khi thực hiện hành vi phạm tội; 01 áo thun ngắn tay màu xanh dương đậm, 01 quần Kaki dài màu đen, 01 đôi dép màu đỏ, 01 nón kết có hoa văn sọc xanh đỏ, 01 nón bảo hiểm màu trắng sọc xanh lá - là trang phục bị cáo Vĩnh mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị nên tiêu hủy.

Đối với: 01 xe mô tô biển số 52H3-4597 có số khung: VDNFX8MBQ704982, số máy: FT704982, hai bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội. Kết quả giám định số khung, số máy không thay đổi. Xác minh xe do ông Liêu Kế T3 đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Năm 2009, ông T3 bán xe cho 01 nam thanh niên tên C (không rõ lai lịch) với giá 2.000.000 đồng, hai bên không làm giấy tờ mua bán. T khai mua xe vào cuối năm 2023 của 01 người bạn tên C (không rõ lai lịch) với giá 2.000.000 đồng, T đã làm mất giấy tờ xe. Xác minh thông tin số khung, số máy trên, kết quả: không tìm thấy dữ liệu, hiện chưa xác định chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, trong khi chiếc xe trên lại là phương tiện dùng vào việc phạm tội; do vậy giao cho Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành thông báo trong thời hạn nhất định, nếu không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận, thì đề nghị căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Điều 228 Bộ luật Dân sự năm 2015, tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu gì khác. Do vậy, Tòa án không xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 173; Điều 17; Điều 38; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Lê Minh T 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 26/3/2024.

Phạt bổ sung bị cáo Lê Minh T số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt: P1 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 26/3/2024.

  • - Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015
  • - Áp dụng Điều 228 của Bộ luật dân sự 2015
  • - Lưu giữ 01 đĩa DVD chứa dữ liệu camera ghi nhận hình ảnh Lê Minh T và Phan Sơn V thực hiện hành vi phạm tội.
  • - Trả lại: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A31, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, đã qua sử dụng.
  • - Tiêu hủy: 01 áo sơ mi tay dài sọc ca rô đỏ, 01 quần jeans dài màu trắng, 01 nón bảo hiểm màu xanh dương, 01 đôi giày da màu nâu; 01 áo thun ngắn tay màu xanh dương đậm, 01 quần Kaki dài màu đen, 01 đôi dép màu đỏ, 01 nón kết có hoa văn sọc xanh đỏ, 01 nón bảo hiểm màu trắng sọc xanh lá.
  • - Giao Chi cục thi hành dân sự Q, Thành phố Hồ Chí Minh thông báo với thời hạn 12 tháng đối với 01 xe mô tô biển số 52H3-4597 có số khung: VDNFX8MBQ704982, số máy: FT704982, để chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp (nếu có) đến nhận, trong thời hạn trên kể từ ngày đăng báo mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/06/2024)

  • - Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Buộc các bị cáo mỗi người phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng;

2. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
  • - TAND TP.HCM; (1)
  • - VKSND TP.HCM (1)
  • - VKSND Quận 10; (2)
  • - Công an Quận 10; (2)
  • - Chi cục THADS Quận 10; (1)
  • - Người tham gia tố tụng; (3)
  • - Lưu: VP, THAHS, Hồ sơ. (8)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Hiếu Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 94/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 94/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Minh Tâm và đồng phạm bị VKSND Q10 truy tố về tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger