|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 94/2024/HS-PT
Ngày 16/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hằng
Các Thẩm phán:
Ông Bùi Duy Thạch
Ông Vũ Quang Trung
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Hồng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đồng Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 79/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Đoàn Thị Hoài H do có kháng cáo của bị cáo Đoàn Thị Hoài H và của bị hại là bà Hà Thị Thu H1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
- Bị cáo có kháng cáo: Đoàn Thị Hoài H, sinh năm 1981, tại thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Số A phố N, phường A, Quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Thế V (đã chết) và con bà Nguyễn Thị K; có 02 con; tiền sự: Ngày 22/6/2023 Công an Quận N, thành phố Hải Phòng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chửi bới, xúc phạm danh dự nhân phẩm của người khác; Ngày 10/5/2023 Công an Quận L, thành phố Hải Phòng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chửi bới, xúc phạm danh dự nhân phẩm của người khác; tiền án: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ ngày 21/11/2023, đến ngày 24/11/2023 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Bị cáo bị kháng cáo: Phạm Văn T, sinh năm 1961, tại thành phố Hải Phòng; đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A phố N, phường A, Quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số D phố N, phường A, Quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn S và con bà Vũ Thị T1 (đều đã chết); có vợ Phan Thị Thanh H2 và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/9/2023; có mặt.
- Bị hại có kháng cáo: Chị Hà Thị Thu H1, sinh năm 1972; nơi cư trú: Số B phố A, phường L, Quận N, thành phố Hải Phòng; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Trần Hữu K1 - Luật sư Công ty L thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 28 tháng 5 năm 2023, chị Hà Thị Thu H1, sinh năm 1972, nơi cư trú: Số B phố A, phường L, Quận N, thành phố Hải Phòng đến trụ sở Công an Quận L trình báo về việc: Nhà số I phố N, phường A, Quận L, thành phố Hải Phòng hiện cho anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1971, nơi cư trú: Số B phố H, phường H, Quận L, thành phố Hải Phòng thuê để ở từ năm 2018 đến cuối năm 2022 bị Đoàn Thị Hoài H và đồng phạm phun sơn làm bẩn cửa và tường nhà. Chị H giao nộp cho cơ quan Công an 01 USB nhãn hiệu Kington màu trắng bằng kim loại ghi hình lại việc Đoàn Thị Hoài H và đồng phạm dùng bình phun sơn chữ lên bức tường phía trước và cánh cửa nhà chị.
Tại Bản kết luận số 69 ngày 02 tháng 8 năm 2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự Quận L, kết luận: Tổng giá trị thiệt hại của bức tường phía trước và cánh cửa đã qua sử dụng của nhà số I phố N, phường A, Quận L, thành phố Hải Phòng được định giá tương đương là: 4.150.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 686 ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Phòng K2 Công an thành phố H, kết luận: 01 tập tin video có phần mở rộng MP4, dung lượng 44,2MB được lưu trong USB nhãn hiệu Kington đã qua sử dụng không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh.
Tại cơ quan điều tra, Đoàn Thị Hoài H khai nhận: Do có mâu thuẫn với anh Nguyễn Văn T2 trong việc anh T2 đứng ra bảo lãnh cho Vũ Thị T3 (con dâu Phạm Văn T) vay tiền của Đoàn Thị Hoài H, nên vào khoảng 12 giờ ngày 28 tháng 5 năm 2023, H mang theo 01 bình xịt sơn màu đỏ đến nhà số I phố N nơi anh T2 ở để phun sơn lên cửa và tường nhà với mục đích để làm giảm giá trị của ngôi nhà vì H biết ngôi nhà đang rao bán. Khi đi vào đến trong ngõ, H gặp Phạm Văn T và nói cho T biết việc mình sẽ phun sơn lên tường nhà số I phố N và hỏi mượn ghế để đứng lên phun sơn. T đồng ý và mang ghế gỗ ra trước cửa nhà số I phố N cho H mượm. H đứng trên ghế phun sơn lên bức tường phía trước của ngôi nhà dòng chữ: “nhà này đang tranh chấp”, T đứng ở dưới đất bảo H đưa bình xịt sơn để T phun sơn vào cánh cửa sắt ngôi nhà dòng chữ: “nhà này đang tranh chấp”. Sau khi thực hiện xong việc phun sơn, T lấy ghế mang về nhà cất còn H bỏ đi, sau đó trốn khỏi địa phương. Ngày 21 tháng 11 năm 2023, Đoàn Thị Hoài H đến Công an Quận L đầu thú. Đoàn Thị Hoài H không biết nhà trên là của chị Hà Thị Thu H1.
2
Tại Cơ quan điều tra Phạm Văn T khai: Tính phun sơn lên cửa nhà số I phố N, phường A, Quận L cùng với Đoàn Thị Hoài H vì T cho rằng do anh T2 xúi giục chị Vũ Thị T3 bỏ con trai T là anh Phạm Đức D, dẫn theo hai cháu nội của T đi từ năm 2022 đến thời điểm hiện tại không có tin tức dẫn đến anh D bị bệnh tâm thần. Tính nghĩ nhà số I phố N là của anh T2 nên phun sơn vào cửa để làm giảm giá trị ngôi nhà.
Tại Cơ quan điều tra, anh Nguyễn Văn T2 khai nhận: Anh thuê nhà số I phố N của chị Hà Thị Thu H1 từ năm 2019 đến tháng 10 năm 2022. Anh không chứng kiến việc Đoàn Thị Hoài H và Phạm Văn T phun sơn lên cánh cửa và bức tường phía trước ngôi nhà. Anh quen biết xã hội với Vũ Thị T3, anh không biết Thùy vay mượn của Đoàn Thị Hoài H và anh cũng không đứng ra nhận trả nợ thay cho Vũ Thị T3.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận L đã tiến hành cho Đoàn Thị Hoài H và anh Nguyễn Văn T2 đối chất. Hai bên vẫn giữ nguyên lời khai.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã tuyên bố các bị cáo Đoàn Thị Hoài H và Phạm Văn T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Thị Hoài H 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 21/11/2023 đến ngày 24/11/2023.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn T 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Phạm Văn T cho Ủy ban nhân dân phường A, Quận L, thành phố Hải Phòng nơi bị cáo Phạm Văn T thường trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm, án phí hình sự sơ thẩm của bị cáo Đoàn Thị Hoài H và tuyên quyền kháng cáo của các bị cáo và bị hại.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Đoàn Thị Hoài H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo; bị hại Hà Thị Thu H1 kháng cáo đề nghị tăng mức hình phạt đối với các bị cáo và buộc các bị cáo phải bồi thường tiền tổn thất về tinh thần, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và mất nguồn thu nhập.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Đoàn Thị Hoài H vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo; bị hại Hà Thị Thu H1 rút yêu cầu kháng cáo về việc đòi số tiền mất nguồn thu nhập 63.000.000 đồng, vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo khác.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
3
- Về mức hình phạt: Cả 2 bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Riêng bị cáo H1 còn được hưởng thêm tình tiết tự nguyện bồi thường cho bị hại và đã ra đầu thú. Giá trị tài sản các bị cáo làm hư hỏng không lớn (chỉ trên mức tối thiểu 2.000.000 đồng), đã được bị cáo H1 khắc phục toàn bộ. Cả hai bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo T đã là người cao tuổi nên có đủ điều kiện được hưởng án treo. Tòa án cấp sơ thẩm xét vai trò của bị cáo H1 cao hơn bị cáo T, nhân thân đã bị xử phạt hành chính nên đã xử phạt bị cáo H1 12 tháng tù và xử bị cáo T 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo là phù hợp, đúng quy định.
Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo Đoàn Thị Hoài H không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, nên không có căn cứ để xem xét giảm nhẹ hình phạt, bị cáo không có quá trình nhân thân tốt, vì vậy không đủ điều kiện được hưởng án treo. Cũng không áp dụng thêm tình tiết tăng nặng cho các bị cáo không có căn cứ để xem xét tăng nặng hình phạt.
- Về vấn đề bồi thường:
+ Tại phiên tòa, bị hại rút yêu cầu kháng cáo về việc đòi số tiền mất nguồn thu nhập là 63.000.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm về yêu cầu này của bị hại.
+ Đối với yêu cầu của bị hại đòi tiền bồi thường thiệt hại do làm tổn thất về tinh thần, ảnh hưởng đến sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm là 10 tháng x 1.800.000 đồng = 18.000.000 đồng. Xét việc các bị cáo phun sơn lên cửa, tường nhà bị hại chưa đến mức độ ảnh hưởng đến tinh thần, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của bị hại. Xét trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa cấp phúc thẩm bị hại không đưa ra được tài liệu chứng cứ mới để yêu cầu đòi số tiền 18.000.000 đồng nên không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu bồi thường này của người bị hại.
Ngoài ra, trong vụ án này, trước phiên tòa sơ thẩm bị cáo H đã tự nguyện nộp 5.000.000 đồng để khắc phục hậu quả. Mặc dù bị cáo bị tuyên phải bồi thường cho chị Hà Thị Thu H1 số tiền 4.150.000 đồng nhưng cũng trong phạm vi số tiền đã tự nguyện nộp nên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội của Quốc hội, bị cáo H1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, Bản án sơ thẩm đã tuyên buộc bị cáo Đoàn Thị Hoài H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm là không đúng quy định, ảnh hưởng tới quyền lợi của bị cáo.
Mặc dù bị cáo Đoàn Thị Hoài H không kháng cáo về án phí dân sự sơ thẩm, nhưng để đảm bảo nguyên tắc có lợi cho bị cáo và việc áp dụng pháp luật đúng quy định, cần tuyên bị cáo Đoàn Thị Hoài H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
4
Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ khoản 2 Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần yêu cầu bồi thường mất thu nhập bị hại đã rút;
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Thị Hoài H và của bị hại Hà Thị Thu H1;
- Căn cứ Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm về phần án phí dân sự sơ thẩm, tuyên bị cáo H1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 24/4/2024, bị cáo Đoàn Thị Hoài H có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo. Ngày 03/5/2024, bị hại Hà Thị Thu H1 có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm đề nghị tăng mức hình phạt đối với các bị cáo và buộc các bị cáo phải bồi thường tiền tổn thất tinh thần, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tiền mất nguồn thu nhập. Xét kháng cáo của bị cáo Đoàn Thị Hoài H và của bị hại Hà Thị Thu H1 trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đoàn Thị Hoài H và bị cáo Phạm Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn sơ thẩm, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của bị hại, kết luận định giá tài sản, diễn biến đoạn Video thu giữ được và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Các bị cáo Đoàn Thị Hoài H, Phạm Văn t đã có hành vi dùng bình phun sơn nhằm phun sơn lên bức tường phía trước nhà và cánh cửa sắt nhà số I phố N, phường A, Quận L của chị Hà Thị Thu H1 làm hư hỏng với giá trị thiệt hại là 4.150.000 đồng. Như vậy, hành vi của các bị cáo Đoàn Thị Hoài H, Phạm Văn t đã phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố các bị cáo Đoàn Thị Hoài H và Phạm Văn T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; xử phạt bị cáo Đoàn Thị Hoài H 12 (Mười hai) tháng tù; xử phạt bị cáo Phạm Văn T 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là phù hợp với quy định của pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Đoàn Thị Hoài H không kháng cáo về tội danh và khung hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng.
- Xét kháng cáo của bị cáo Đoàn Thị Hoài H:
[3] Bị cáo Đoàn Thị Hoài H kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo H với mức hình phạt 12 (Mười hai) tháng tù là nặng và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảm hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo. Tuy nhiên, trong giai
5
đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa cấp phúc thẩm bị cáo Đoàn Thị Hoài H không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, nên không có căn cứ để xem xét giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo. Xét bị cáo Đoàn Thị Hoài H có quá trình sinh sống tại địa phương không chấp hành pháp luật tốt bởi lẽ bị cáo đã 02 (Hai) lần bị cơ quan Công an xử phạt vi phạm hành chính về cùng hành vi chửi bới, xúc phạm danh dự nhân phẩm của người khác, vì vậy bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Thị Hoài H; cần thiết phải giữ nguyên mức hình phạt bản án sơ thẩm đối với bị cáo Đoàn Thị Hoài H theo đề xuất của Kiểm sát viên tại phiên tòa mới đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và răn đe tội phạm nói chung, đồng thời tuyên truyền, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật tại địa phương.
- Xét kháng cáo của bị hại Hà Thị Thu H1:
[4] Xét kháng cáo của bị hại yêu cầu các bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền tổn thất về tinh thần, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm là 10 tháng x 1.800.000 đồng/tháng = 18.000.000 đồng. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét: Tại Điều 9 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTPngày 06 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, theo đó thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm quy định tại Điều 592 của Bộ luật Dân sự được xác định như sau: “Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại bao gồm: Chi phí cần thiết cho việc thu hồi, xóa bỏ vật phẩm, ấn phẩm, dữ liệu có nội dung xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người bị thiệt hại; chi phí cho việc thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm; tiền tàu, xe đi lại, thuê nhà trọ ...; chi phí tổ chức xin lỗi, cải chính công khai tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người bị thiệt hại và các chi phí thực tế, cần thiết khác để hạn chế, khắc phục thiệt hại. Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút được xác định: Trước khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, người bị xâm phạm có thu nhập thực tế nhưng do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị xâm phạm phải thực hiện những công việc để hạn chế, khắc phục thiệt hại nên khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó”.
[5] Xét bị hại Hà Thị Thu H1 không chứng minh được chi phí thực tế cho việc xóa bỏ dữ liệu có nội dung xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của bị hại; không có tài liệu chứng minh cho việc bị hại đã bỏ ra chi phí thực tế cho việc thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm; thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút do các bị cáo phun sơn lên cửa, tường căn nhà số I phố N... Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của bị hại về việc yêu cầu các bị cáo bồi thường cho bị hại tiền tổn thất về tinh thần, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm là số tiền 18.000.000 đồng.
6
[6] Xét kháng cáo của bị hại yêu cầu tăng mức hình phạt đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét: Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo khai báo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo H1 tự nguyện bồi thường cho bị hại và đã ra đầu thú nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo có trên 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo Đoàn Thị Hoài H là người chủ động thực hiện việc phun sơn lên tường và cửa nhà của bị hại nên có vai trò chính, bị cáo T với vai trò giúp sức cho bị cáo H nên bị cáo H chịu mức án cao hơn bị cáo T. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Đoàn Thị Hoài H 12 (Mười hai) tháng tù; xử phạt bị cáo Phạm Văn T 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là có căn cứ và đúng pháp luật. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa cấp phúc thẩm bị hại Hà Thị Thu H1 không đưa ra được tài liệu, chứng cứ mới để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét tăng mức hình phạt đối với bị cáo H1 và bị cáo T. Vì vậy, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị hại về việc tăng mức hình phạt đối với bị cáo H1 và bị cáo T.
[7] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại Hà Thị Thu H1 rút kháng cáo về việc đòi các bị cáo bồi thường số tiền mất nguồn thu nhập là 63.000.000 đồng. Vì vậy, cần đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu này mà bị hại đã rút.
[8] Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Thị Hoài H và của bị hại Hà Thị Thu H1; giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt. Căn cứ khoản 2 Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần yêu cầu bồi thường mất thu nhập bị hại đã rút;
[9] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo Đoàn Thị Hoài H và của bị hại Hà Thị Thu H1 không được chấp nhận nên bị cáo Đoàn Thị Hoài H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm và bị hại Hà Thị Thu H1 phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.
[10] Mặc dù yêu cầu của bị hại về việc các bị cáo phải bồi thường thiệt hại do làm tổn thất về tinh thần, ảnh hưởng đến sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm là 18.000.000 đồng không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận, tuy nhiên theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì yêu cầu này của bị hại được miễn án phí nên bị hại Hà Thị Thu H1 không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.
7
[11] Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.
Về thiếu sót của Tòa án cấp sơ thẩm:
Tại điểm g khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án quy định: “Trường hợp bị cáo tự nguyện nộp tiền bồi thường thiệt hại trước khi mở phiên tòa thì không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền đã tự nguyện nộp.”.
Trong vụ án này, tại giai đoạn điều tra, bị cáo Đoàn Thị Hoài H đã tự nguyện nộp số tiền 5.000.000 đồng để khắc phục hậu quả cho bị hại số tiền 4.150.000 đồng và bị cáo H không yêu cầu bị cáo T phải trả cho bị cáo H số tiền 2.075.000 đồng mà bị cáo H đã bồi thường thay cho bị cáo T. Mặc dù bị cáo Đoàn Thị Hoài H bị tuyên phải bồi thường cho chị Hà Thị Thu H1 số tiền 4.150.000 đồng nhưng cũng trong phạm vi số tiền đã tự nguyện nộp nên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội của Quốc hội, bị cáo H1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền đã tự nguyện nộp mới là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm lại quyết định buộc bị cáo Đoàn Thị Hoài H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về bồi thường thiệt hại là không đúng quy định của pháp luật, ảnh hưởng tới quyền lợi cho bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm về án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Đoàn Thị Thu H3 và Phạm Văn T, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Thị Hoài H và của bị hại Hà Thị Thu H1.
- Căn cứ khoản 2 Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần rút kháng cáo của bị hại Hà Thị Thu H1 về việc đòi số tiền mất nguồn thu nhập 63.000.000 đồng.
- Căn cứ Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Sửa bản án sơ thẩm về phần án phí dân sự sơ thẩm, tuyên bị cáo Đoàn Thị Hoài H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
2. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đoàn Thị Hoài H và Phạm Văn T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
8
3. Về hình phạt:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Thị Hoài H 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 21/11/2023 đến ngày 24/11/2023.
Tiếp tục duy trì Quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Đoàn Thị Hoài H cho đến khi bị cáo Đoàn Thị Hoài H đi thi hành án phạt tù.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn T 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phạm Văn T cho Ủy ban nhân dân phường A, Quận L, thành phố Hải Phòng nơi bị cáo Phạm Văn T thường trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Phạm Văn T.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
* Về án phí hình sự sơ thẩm:
- Bị cáo Phạm Văn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo Đoàn Thị Hoài H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
* Về án phí hình sự phúc thẩm:
- Bị cáo Đoàn Thị Hoài H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
- Bị hại Hà Thị Thu H1 phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự phúc thẩm.
9
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Sửa phần án phí dân sự sơ thẩm, bị cáo Đoàn Thị Hoài H không phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị hại Hà Thị Thu H1 không phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại bị hại Hà Thị Thu H1 số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0000457 ngày 19/6/2024 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
7. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thu Hằng |
10
Bản án số 94/2024/HS-PT ngày 16/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về cố ý làm hư hỏng tài sản (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 94/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự phúc thẩm xét xử về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản theo khoản 1 Điều 178
