|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN Q. THANH KHÊ-TP. ĐÀ NẴNG Bản án số: 94/2024/HS- ST Ngày: 15-07-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Thuỷ
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tý
- Nơi công tác: Cán bộ giáo dục hưu trí
- Ông Phạm Thuận
- Nơi công tác: Cán bộ hưu trí
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Khánh Vi- Thư ký Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Trúc Lâm- Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 75/2024/TLST- HS ngày 06 tháng 06 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2024/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 06 năm 2024, Quyết định Hoãn phiên tòa số 75/2024/HSST-QĐ ngày 27 tháng 06 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức H
(tên gọi khác: không)- Sinh ngày 09 tháng 08 năm 2006 tại Đà Nẵng (thời điểm phạm tội 17 tuổi, 07 tháng, 13 ngày); nơi ĐKNKTT và chỗ ở: tổ A, thôn L, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: lao động phổ thông; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức H1 (s) và bà Lê Thị Thu Y (s); tiền án, tiền sự: không.
- Nhân thân: Ngày 29/03/2024, bị Công an quận T xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” tại Quyết định số: 132/QĐ-XPHC.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 22/03/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận T, thành phố Đà Nẵng. (có mặt)
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Đức H: ông Nguyễn Đức H1, sinh năm 1975 và bà Lê Thị Thu Y, sinh năm 1980 (là cha, mẹ ruột của bị cáo); cùng địa chỉ: tổ A, thôn L, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. (có mặt)
- Người bào chữa của bị cáo Nguyễn Đức H: Ông Nguyễn Huy V, Luật sư Thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Đ, địa chỉ: Số F đường H, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Lê Hà T - Sinh năm: 1991; nơi thường trú: số A P, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; chỗ ở: phòng F, nhà D, chung cư H, quận L, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt)
- Anh Thái Quốc Đ, Sinh năm: 1992; địa chỉ: thôn L, xã A, huyện L, tỉnh Quảng Bình. (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Hoàng Bảo Q, Sinh năm: 1990; địa chỉ: thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. (vắng mặt)
- Người làm chứng: Ông Ngô Văn T1 - Sinh năm: 1957; địa chỉ: tổ B, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt)
- Đại diện cơ quan, tổ chức nơi bị cáo Nguyễn Đức H đang sinh hoạt: Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; địa chỉ: số C đường Đ, thôn D, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 00 ngày 22/3/2024, Nguyễn Đức H liên hệ với một người thanh niên tên L (chưa rõ lai lịch) để mua 03 (ba) gói ma túy đá giá 700.000đ (bảy trăm ngàn đồng) nhằm mục đích về bán lại cho con nghiện kiếm lời, cả hai hẹn giao dịch tại đường vành đai xã H, huyện H, TP .. Khi H tới địa điểm trên, L chỉ chỗ giấu ma túy cho H đến lấy, H đến lấy 03 (ba) gói ma túy đá và để tiền tại đó rồi đi về, H cất giấu 03 (ba) gói ma túy đá trên trong túi xách mang theo bên người. Sau khi về, H vào các trang hội, nhóm kín trên Facebook đăng bài bán ma túy đá.
Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Lê Hà T nhắn tin qua Zalo cho H hỏi mua 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) ma túy đá thì H đồng ý bán, cả hai hẹn giao dịch tại dưới chân cầu vượt N, TP .. Đến khoảng 22 giờ 30 cùng ngày, H điều khiển xe mô tô hiệu Honda SH màu trắng, BKS: 73H1-624.37 tới dưới chân cầu vượt N Huế, đoạn ngã ba đường N - Đ thuộc phường A, Q. T, TP .. Vào lúc 23 giờ 00 cùng ngày, khi H đang dừng xe bên lề đường, trong tay trái cầm một gói ma túy đá để chờ T tới bán gói ma túy này cho T nhưng chưa bán được thì bị tổ C5-911 Công an T2 phối hợp với Đội Cảnh sát ĐTTP về Ma túy Công an quận T, TP . bắt quả tang H có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy, kiểm tra trong túi xách H mang theo bên người có 02 (hai) gói ma túy đá khác. Lúc này, Lê Hà T điều khiển xe Sirius, biển số 75F1-591.90 đang đứng gần đó chờ mua ma túy của H nhưng chưa lấy được ma túy thì bị tổ tuần tra mời về trụ sở làm việc.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Đức H tại thôn L, xã H, huyện H, TP . Đà Nẵng, thu giữ:
- 10 (mười) vỏ bao ni lông màu cam kích thước khoảng (3,8x3)cm mỗi bao, trên một mặt của bao có in hình đầu lâu màu đen;
- 01 (một) nó thủy tỉnh dùng để sử dụng ma túy đá.
* Tại Bản kết luận giảm định số 248/KL-KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng K Công an thành phố T2 kết luận:
"Tình thể màu trắng được niêm phong trong bì ký hiệu G1, G2 là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu G1: 0,059 gam, mẫu G2: 0,279 gam."
Đây là chất ma túy bị cấm sử dụng được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Qua thử test nước tiểu, kết quả Nguyễn Đức H và Lê Hà T dương tính với chất ma túy.
Quá trình điều tra, bị can Nguyễn Đức H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
* Tang vật tạm giữ:
- 02 (hai) bì giấy của Phòng K CATP. Đà Nẵng dán kín, ký hiệu G1, G2 bên trong chứa mẫu hoàn trả và bao gói mẫu được niêm phong bởi các dấu tròn đỏ của Phòng K, chữ ký của Giám định viên, Điều tra viên.
- + Bì ký hiệu G1: bên trong có 0 gam mẫu G1 và bao gói mẫu.
- + Bì ký hiệu G2: bên trong có 0,191 gam mẫu G2 và bao gói mẫu.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh, số Imei: 352904112243172 gắn sim 0777.175.316 (Chiếc điện thoại này H sử dụng để liên hệ bán ma túy cho Lê Hà T).
- 01 (một) túi xách màu xám, H dùng để cất giấu ma túy.
- 01 (một) nỏ thủy tinh.
- 10 (mười) vỏ bao ni lông màu cam kích thước khoảng (3,8x3)cm mỗi bao, trên một mặt của bao có in hình đầu lâu màu đen (H khai dùng để chứa ma túy khi cần sử dụng).
- 01 (một) bình thủy tinh màu trắng bên trên có gắn ống hút bằng nhựa, bên trong bình thủy tinh và trong ống hút không bám dính chất gì (H khai đây là dụng cụ sử dụng ma túy đá),
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, số Imei: 350944134010870 gắn sim 0775.433.721 (Chiếc điện thoại này T sử dụng để liên hệ mua ma túy của Nguyễn Đức H).
- Số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) (T khai đây là tiền T sử dụng để mua ma túy đá của Nguyễn Đức H).
Tại bản cáo trạng số 69/CT-VKS ngày 05 tháng 06 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, TP. Đà Nẵng đã truy tố: Nguyễn Đức H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự; Xử phạt Nguyễn Đức H từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- Tịch thu, tiêu hủy:
- 02 (hai) bì giấy của Phòng K CATP. Đà Nẵng dán kín, ký hiệu G1, G2 bên trong chứa mẫu hoàn trả và bao gói mẫu được niêm phong bởi các dấu tròn đỏ của Phòng K, chữ ký của Giám định viên, Điều tra viên. (Bì ký hiệu G1: bên trong có 0 gam mẫu G1 và bao gói mẫu; Bì ký hiệu G2: bên trong có 0,191 gam mẫu G2 và bao gói mẫu);
- 01 (một) túi xách màu xám, H dùng để cất giấu ma túy;
- 01 (một) nỏ thủy tinh;
- 10 (mười) vỏ bao ni lông màu cam kích thước khoảng (3,8x3)cm mỗi bao, trên một mặt của bao có in hình đầu lâu màu đen;
- 01 (một) bình thủy tinh màu trắng bên trên có gắn ống hút bằng nhựa, bên trong bình thủy tinh và trong ống hút không bám dính chất gì.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh, số Imei: 352904112243172 gắn sim 0777.175.316;
- Tuyên trả cho Lê Hà T:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, số Imei: 350944134010870 gắn sim 0775.433.721
- Số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng)
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức H – Luật sư Nguyễn Huy V thống nhất vấn đề tội danh, điểm, khoản, điều luật áp dụng đối với bị cáo như ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, đồng thời đề nghị HĐXX vận dụng nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội quy định tại Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo theo quy định. Ngoài ra, luật sư đề nghị xem xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, cha ruột là ông Nguyễn Đức H1 bị mất sức lao động do bị đột quỵ, em trai bị khuyết tật trí tuệ nên H phải bỏ học từ lớp 10 đi làm phụ giúp gia đình. Nguyên nhân bị cáo phạm tội một phần do bồng bột, nhận thức pháp luật hạn chế với mong muốn làm ra nhiều tiền hơn để phụ cha mẹ nuôi em. Luật sư đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất mà Kiểm sát viên đã đề xuất tại phiên tòa.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố và không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo xin Hội đồng xét xử cứu xét giảm nhẹ hình phạt.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Đức H đề nghị HĐXX chấp nhận ý kiến của luật sư bào chữa cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất mà Kiểm sát viên đã đề xuất tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an quận T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Đức H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 22/03/2024 đối với Nguyễn Đức H; kết luận giám định số 248/KL-KTHS ngày 29/03/2024 của Phòng K- Công an thành phố T2, HĐXX có đủ cở sở kết luận: Vào khoảng 23 giờ ngày 22/3/2024, tại đoạn ngã ba đường N - Đ thuộc phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Đức H có hành vi dừng xe bên lề đường, trong tay trái cầm 01 gói ma túy loại Methamphetamine (đá) có khối lượng 0,059 gam để chờ Lê Hà T tới bán gói ma túy này cho T nhưng chưa bán được; 02 gói ma túy đá còn lại có khối lượng 0,279 gam H cất giấu trong túi xách mang theo bên người thì bị tổ C5-911 Công an thành phố T2 phối hợp với Đội Cảnh sát ĐTTP về Ma túy Công an quận T, thành phố Đà Nẵng phát hiện bắt quả tang.
Xét, Nguyễn Đức H có hành vi mua và cất giấu trái phép 03 gói ma túy có tổng khối lượng 0,338 gam, loại Methamphetamine để chờ bán cho người khác để thu lợi bất chính nên đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự như bản cáo trạng số 69/CT-VKS ngày 05 tháng 06 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Đức H là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bản thân là người nghiện ma túy, bị cáo nhận thức rõ ma tuý gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, là tệ nạn xã hội và là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác nhưng bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật vẫn thực hiện hành vi mua bán trái phép ma túy để thu lợi bất chính phục vụ nhu cầu bản thân nên đối với bị cáo cần phải xử phạt nghiêm khắc.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình của bị can Nguyễn Đức H thuộc diện hoàn cảnh khó khăn, cha ruột là ông Nguyễn Đức H1 bị mất sức lao động do bị đột quỵ, em trai bị khuyết tật trí tuệ nên H phải bỏ học từ lớp 10 để đi làm phụ giúp gia đình. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để cân nhắc giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định. Ngoài ra, thời điểm phạm tội và tại phiên tòa bị cáo H sinh ngày 09/08/2006 chưa đủ 18 tuổi, HĐXX cân nhắc vận dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 phạm tội quy định tại Điều 90; Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như ý kiến đề xuất của đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa.
Từ những phân tích trên, HĐXX thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê đề nghị đối với bị cáo là phù hợp với nhân thân, tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cần thiết cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
[7] Về xử lý vật chứng:
Đối với: 02 (hai) bì giấy của Phòng K CATP. Đà Nẵng dán kín, ký hiệu G1, G2 bên trong chứa mẫu hoàn trả và bao gói mẫu được niêm phong bởi các dấu tròn đỏ của Phòng K, chữ ký của Giám định viên, Điều tra viên. (Bì ký hiệu G1: bên trong có 0 gam mẫu G1 và bao gói mẫu; Bì ký hiệu G2: bên trong có 0,191 gam mẫu G2 và bao gói mẫu); 01 (một) túi xách màu xám, H dùng để cất giấu ma túy; 01 (một) nỏ thủy tinh; 10 (mười) vỏ bao ni lông màu cam kích thước khoảng (3,8x3) cm mỗi bao, trên một mặt của bao có in hình đầu lâu màu đen; 01 bình thủy tinh màu trắng bên trên có gắn ống hút bằng nhựa, bên trong bình thủy tinh và trong ống hút không bám dính chất gì là công cụ, phương tiện phạm tội của bị cáo thì cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh, số Imei: 352904112243172 gắn sim 0777.175.316, H sử dụng để liên hệ bán ma túy cho Lê Hà T thì cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước;
Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, số Imei: 350944134010870 gắn sim 0775.433.721, T sử dụng để liên hệ mua ma túy của Nguyễn Đức H và số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) T sử dụng để mua ma túy đá của H nhưng chưa mua được là tang vật của vụ án nhưng hành vi của T chỉ vi phạm hành chính nên cần trả lại cho T là phù hợp.
[8] Về những vấn đề khác có liên quan đến vụ án:
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Đức H, Công an quận T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Đối với Lê Hà T có hành vi mua trái phép 01 (một) gói ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,059 gam nhằm mục đích sử dụng nhưng chưa đủ định lượng cấu thành tội phạm, T không có tiền án, tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, Công an quận T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với Lê Hà T về hành vi sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.
Đối với người đàn ông tên L (bán ma túy cho H) hiện không rõ lai lịch, địa chỉ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: bị cáo Nguyễn Đức H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/03/2024.
* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy:
- 02 (hai) bì giấy của Phòng K CATP. Đà Nẵng dán kín, ký hiệu G1, G2 bên trong chứa mẫu hoàn trả và bao gói mẫu được niêm phong bởi các dấu tròn đỏ của Phòng K, chữ ký của Giám định viên, Điều tra viên. (Bì ký hiệu G1: bên trong có 0 gam mẫu G1 và bao gói mẫu; Bì ký hiệu G2: bên trong có 0,191 gam mẫu G2 và bao gói mẫu);
- 01 (một) túi xách màu xám;
- 01 (một) nỏ thủy tinh;
- 10 (mười) vỏ bao ni lông màu cam kích thước khoảng (3,8x3)cm mỗi bao, trên một mặt của bao có in hình đầu lâu màu đen;
- 01 (một) bình thủy tinh màu trắng bên trên có gắn ống hút bằng nhựa, bên trong bình thủy tinh và trong ống hút không bám dính chất gì.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu xanh, số Imei: 352904112243172 gắn sim 0777.175.316;
- Tuyên trả cho Lê Hà T:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, số Imei: 350944134010870 gắn sim 0775.433.721
- Số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0000950 ngày 06/06/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê.
(Toàn bộ số vật chứng trên thể hiện tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/06/2024, hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê đang quản lý).
2. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Thuỷ |
Bản án số 94/2024/HS- ST ngày 15/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự (mua bán trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 94/2024/HS- ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
