|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 94/2024/HNGĐ-ST
Ngày 12 tháng 8 năm 2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết T
Bà Lê Thị Hoa
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức A - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh KH.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N, tỉnh KKH tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh S – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh KH xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 448/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2024, giữa:
* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Phùng D, sinh năm: 1972
Nơi cư trú: Tổ dân phố B, Đ, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
* Bị đơn: Bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1973
Nơi cư trú: Tổ dân phố B, Đ, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nguyên đơn ông Nguyễn Phùng D trình bày: Ông và bà Trần Thị Thu H tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1994 đến nay không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, do vợ chồng không hợp nhau nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, kình cãi nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông và bà H.
Về con chung: Ông và bà H có với nhau 03 con chung là Nguyễn Hồng D1, sinh năm 1995, Nguyễn Quốc D2, sinh năm 2001 và Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 12/5/2008. Nay ly hôn, ông xin được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 12/5/2008 đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu bà H phải cấp dưỡng nuôi con chung. Con chung Nguyễn Hồng D1, sinh năm 1995, Nguyễn Quốc D2, sinh năm 2001 đã thành niên và đã có cuộc sống ổn định nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Ông xin chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
* Tại biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn bà Trần Thị Thu H trình bày: Bà và ông Nguyễn Phùng D tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1994 đến nay không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, do vợ chồng không hợp nhau nên thường xuyên xảy ra nâu thuẫn, kình cãi nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Nay tình cảm vợ chồng không còn, ông D đề nghị Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà và ông D, bà đồng ý.
Về con chung: Bà thống nhất với lời trình bày và đồng ý với yêu cầu của ông D.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Bà đồng ý với ý kiến của nguyên đơn.
Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do nguyên đơn cung cấp và do Tòa án thu thập được gồm: Đơn xác nhận chung sống như vợ chồng (bản chính); Giấy khai sinh các con (bản sao); Căn cước công dân của ông Nguyễn Phùng D và bà Trần Thị Thu H (bản sao).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án ly hôn. Bị đơn bà Trần Thị Thu H, cư trú tại: Tổ dân phố B, Đ, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Phùng D và bà Trần Thị Thu H trình bày, ông bà tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1994 đến nay không đăng ký kết hôn. Lời trình bày của ông D và bà H phù hợp với xác nhận của Ủy ban nhân dân phường N, thị xã N. Theo khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC- VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, hướng dẫn... “Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không) và có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý, giải quyết và áp dụng Điều 9 và Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ.”. Khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.” và tại khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng...”. Căn cứ theo quy định của pháp luật đã viện dẫn nói trên; Yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Phùng D3 và bà Trần Thị Thu H của ông D3 là có căn cứ nên cần được chấp nhận.
[3] Về con chung: Ông Nguyễn Phùng D3 và bà Trần Thị Thu H có với nhau 03 con chung là Nguyễn Hồng D1, sinh năm 1995, Nguyễn Quốc D2, sinh năm 2001 và Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 12/5/2008. Ông D xin được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 12/5/2008 đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu bà H phải cấp dưỡng nuôi con chung; Cháu Đ có nguyện vọng được ở với ông D. Xét thấy, yêu cầu của ông D là có cơ sở, phù hợp với nguyện vọng của cháu Đ và phù hợp quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Các con chung Nguyễn Hồng D1, sinh năm 1995, Nguyễn Quốc D2, sinh năm 2001 đều đã thành niên và không bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc mất khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Ông Nguyễn Phùng D và bà Trần Thị Thu H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Ông Nguyễn Phùng D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Tuyên bố: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Phùng D và bà Trần Thị Thu H.
- Về con chung: Giao con chung chưa thành niên là Nguyễn Quốc Đ, sinh ngày 12/5/2008 cho ông Nguyễn Phùng D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành (tròn 18 tuổi). Ông D không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con chung.
Các con chung Nguyễn Hồng D1, sinh năm 1995, Nguyễn Quốc D2, sinh năm 2001 đều đã thành niên và không bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc mất khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bà Trần Thị Thu H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con khi cần thiết cha, mẹ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung hoặc khi có căn cứ theo điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Ông Nguyễn Phùng D và bà Trần Thị Thu H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Ông Nguyễn Phùng D phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006019 ngày 07/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa. Ông Nguyễn Phùng D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Trung |
Bản án số 94/2024/HNGĐ-ST ngày 12/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 94/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Phùng Duyên - Trần Thị Thu Hồng – Ly hôn
