|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 94/2024/HS-PT
Ngày: 11/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Minh
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Từ
Bà Trần Thị Mỹ Hải
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đạt– Thư ký Tòa án Nhân dân tỉnh Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án Nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 92/2024/TLPT-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn Hằng, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2023/HS-ST ngày 28 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
- Bị cáo kháng cáo: Họ và tên: Nguyễn Văn H. Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 12 tháng 02 năm 1992 tại: huyện C, tỉnh Nghệ An; Nơi thường trú: thôn K, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện tại: khối Y, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Nguyễn Tiến D và bà: Nguyễn Thị X; Vợ: Đinh Thị Mỹ T. Sinh năm: 1997 (đã ly hôn); Con: Có 01 con sinh năm 2014; Hiện đang sống chung như vợ chồng với chị Hoàng Thị Mai H1, sinh năm 1998, trú tại: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: [1] ngày 12/4/2016 Tòa án nhân dân thành phố Vinh ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Chấp hành xong ngày 03/7/2017; [2] ngày 24/01/2018 Công an huyện C, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”. Chưa chấp hành; Bị cáo tại ngoại, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/10/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị cáo bị kháng cáo: Nguyễn Hữu B. Tên gọi khác: T1; Sinh ngày 24 tháng 11 năm 1984 tại: thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nơi thường trú: Số E đường P, khối P, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện tại: khối A, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Nguyễn Hữu L và bà: Nguyễn Thị T2; Vợ: Võ Thị Vinh N; Sinh năm: 1987; Con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/10/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H đối với tội “Cố ý gây thương tích”: Ông Nguyễn Văn V – Luật sư, công tác tại: Công ty L2 – Đoàn luật sư tỉnh N. Có mặt.
Bị hại:
- Anh: Nguyễn Hữu B. Sinh năm 1984; Nơi thường trú: khối P, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện tại: khối A, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An. (Là bị hại đối với tội “Cố ý gây thương tích”; Vừa là bị cáo trong vụ án). Có mặt tại phiên tòa.
- Anh: Nguyễn Văn H. Sinh năm 1992; Nơi thường trú: Thôn K, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện tại: Khối Y, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. (Là bị hại đối với tội “Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”; Vừa là bị cáo trong vụ án). Có mặt tại phiên tòa.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Nguyễn Văn H đối với tội “Cố ý gây thương tích trong trạng thái bị kích động mạnh”: Ông Nguyễn Văn V – Luật sư, công tác tại: Công ty L2 – Đoàn luật sư tỉnh N. Có mặt.
Người làm chứng:
- Anh: Dương Chí T3. Sinh năm: 2001. Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt
- Anh: Hà Văn Anh Q. Sinh năm: 2003. Nơi cư trú: Xóm A, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
- Chị: Nguyễn Bảo H2. Sinh năm: 2005. Nơi cư trú: 06 Sau G, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Anh: Trần Đình M. Sinh năm: 2004. Nơi cư trú: Xóm C, xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
- Anh: Hồ Sỹ Q1. Sinh năm: 2004; Nơi cư trú: xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
- Chị: Nguyễn Phạm Lê N1, sinh ngày: 11/10/2006. Nơi cư trú: thôn T, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
- Anh: Tô Bá Đ. Sinh năm: 1976; Nơi cư trú: K, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
- Chị: Trần Thị H3, sinh năm: 2004 Nơi cư trú: xóm L, xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Anh: Lê Văn T4, sinh năm: 2001 Nơi cư trú: Thôn H, xã G, huyện G, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
- Anh: Thái Văn T5, sinh năm: 2002 Nơi cư trú: xóm I, xã L, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
Người đại diện cho chị N1 là bà: Nguyễn Thị L1, sinh năm: 1990 (mẹ kế); Nơi cư trú: thôn T, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt mặt.
- Người kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn H
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 2 giờ 50 phút ngày 11/6/2023, Nguyễn Hữu B cùng với anh Dương Chí T3, anh Trần Đình M, anh Hồ Sỹ Q1, anh Hà Văn Anh Q, chị Nguyễn Bảo H2 và một số người khác đang ngồi ăn uống tại quán bia số A, đường L, thuộc khối Y, phường H, thành phố V. Lúc này, Nguyễn Văn H đang ngồi uống cà phê tại quán P ở gần đó nên B sang mời H đến quán bia 108B với những người nêu trên. Quá trình nói chuyện thì Nguyễn Hữu B hỏi chị H2 “Em có người yêu chưa” thì chị H2 chỉ tay về phía anh Q và nói “Người yêu em đó kìa”. Khi đó, B nói với Q “Yêu có dám cầm tay không” còn H nói với Q “Người yêu thì lại ngồi bên cạnh”. Lúc này, anh Q đi sang ngồi bên cạnh chị H2 thì H nói “Chú có thể cho anh mượn người yêu chú một đêm được không” thì Q trả lời H “Nếu điều đó làm anh V1”. Nghe Q trả lời H đứng dậy đi đến dùng tay vỗ 02 phát vào mặt Q rồi tát một phát vào mặt Q và nói “Mi biết tau là ai không, muốn sống cái đất này thì phải cho ngoan”. Thấy vậy nên Nguyễn Hữu B đi đến can ngăn và nói với H “Hắn đang con nít, chấp nó làm chi, đánh nó làm gì tội nó” nhưng H tiếp tục đòi đánh Q và nói “Ở đây tao nói đứa mô câm là phải câm”. Thấy vậy, B can ngăn và nói với H “Thôi nó đang con nít, đừng đánh nó” nhưng H chỉ tay vào Q và nói “Tau không đập thì thôi, loại bay thích thì tau đập như một con chó”. Lúc này, Q im lặng không nói gì còn B đứng giữa H và Q can ngăn thì H nói với B “Không phải việc của anh, tránh ra” và tiếp tục lao vào để đánh Q. Thấy vậy B đẩy H ra và nói “Đừng đánh nó nữa, nó con nít chấp nó làm gì” thì H nói với B “Bình ốc, mi có tin tau đập mi như hắn luôn không”. Nói xong H lao vào đánh Q thì B đẩy H ra khiến H ngã xuống đất. H liền cầm cốc thủy tinh có quai ở trên bàn đứng rồi dậy đưa lên cao đánh một phát trúng vào đỉnh đầu Nguyễn Hữu B làm cho chiếc cốc bị vỡ, khiến B bị choáng, B tay trái ôm đầu cúi xuống rồi dùng tay phải cầm 01 chiếc cốc thủy tinh màu trắng ở trên bàn đánh 01 phát từ dưới lên trên về phía H trúng vào vùng mặt, phía sau đuôi lông mày trái làm chiếc cốc bị vỡ, khiến H bị thương. Sau đó, H lao vào đánh B thì anh Dương Chí T3 vào can ngăn đẩy H và B ra. H cầm cốc thủy tinh ném B nhưng B tránh được rồi bỏ chạy ra đường L thì H đuổi theo để đánh B. Sau đó, anh Tô Bá Đ (chủ quán cà phê Phong T6) can ngăn nên H không đuổi theo B. H đi vào quán bia lấy 02 cốc thủy tinh trên bàn cầm trên tay đi ra đường L ném 01 chiếc cốc xuống đường còn 01 chiếc cốc H cầm ở tay phải dấu sau lưng và gọi “B ốc lại đây nói chuyện”. B nghĩ H gọi lại để giảng hòa nên quay lại. Khi B đi đến đối diện H thì H cầm cốc thủy tinh bằng tay phải đánh 01 phát trúng vào vùng mặt bên trái B làm cốc thủy tinh bị vỡ khiến cho B bị thương ở vùng mặt. Sau đó, B và H được đưa đi bệnh viện B2, điều trị.
Ngày 14/6/2023, Nguyễn Hữu B có đơn yêu cầu giám định thương tích và yêu cầu khởi tố vụ án Hình sự.
Ngày 24/6/2023, Nguyễn Văn H có đơn yêu cầu giám định thương tích và yêu cầu khởi tố vụ án Hình sự
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 440/TTPY ngày 28/7/2023 của Trung tâm pháp y, Sở Y kết luận: “Tỷ lệ tổn thương phần trăm cơ thể của Nguyễn Văn H tại thời điểm giám định là 49% (bốn mươi chín phần trăm).”
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 456/TTPY ngày 07/8/2023 của Trung tâm pháp y, Sở Y kết luận: “Tỷ lệ tổn thương phần trăm cơ thể của Nguyễn Hữu B tại thời điểm giám định là 14% (mười bốn phần trăm).”
Với nội dung trên, Bản án hình sự sơ thẩm số 66/2024/HSST ngày 28/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh đã quyết định: Căn cứ vào điểm đ, khoản 2, Điều 134; khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn H.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 135; điểm i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hữu B.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo Nguyễn Hữu B phạm tội “Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”
Về hình phạt:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu B 27 (hai mươi bảy) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố V nhận được quyết định thi hành án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Giao bị cáo Nguyễn Hữu B cho UBND phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong 01 ngày và không quá 5 ngày trong 01 tuần.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Căn cứ các Điều 584; 585; 586; 590 của Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải bồi thường cho anh Nguyễn Hữu B các khoản sau: Chi phí khám, chữa bệnh, thuốc điều trị: 1.600.000 đồng; Chi phí bồi dưỡng phục hồi sức khỏe 160.000 đồng; bồi thường bù đắp về tổn thất tinh thần 12.600.000 đồng; Thu nhập thực tế bị mất của người bị thiệt hại 2.400.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo Nguyễn Văn H phải bồi thường cho anh Nguyễn Hữu B là 16.760.000 đồng (mười sáu triệu, bảy trăm sáu mươi nghìn đồng).
Buộc bị cáo Nguyễn Hữu B phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn H các khoản sau: Chi phí khám chữa bệnh, tiền thuốc, tiền viện phí với số tiền 28.698.742 đồng; T7 thuê xe cấp cứu và vé máy bay 9.775.000 đồng; Thu nhập thực tế bị mất của người bị thiệt hại là 24.960.000 đồng; Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại là 24.960.000 đồng; Bồi thường bù đắp về tổn thất tinh thần 45.000.000 đồng. Tổng số tiền mà bị cáo Nguyễn Hữu B phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn H là 139.029.742đ (Một trăm ba mươi chín triệu không trăm hai mươi chín nghìn, bảy trăm bốn mươi hai đồng).
Đối trừ nghĩa vụ cho nhau nay bị cáo Nguyễn Hữu B còn phải bồi thường cho Nguyễn Văn Hằng s tiền: 122.269.742 đồng (một trăm hai mươi hai triệu, hai trăm sáu mươi chín nghìn, bảy trăm bốn mươi hai đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo.
Ngày 01/4/2024, bị cáo Nguyễn Văn H kháng cáo kêu oan cụ thể bị cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét về tội danh, đề nghị xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” và xét xử bị cáo B về tội “Cố ý gây thương tích; về hình phạt: Đề nghị cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và tăng hình phạt đối với bị cáo B. Đồng thời cho rằng xử phạt bị cáo mức án nặng.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn H giữ nguyên nội dung kháng cáo
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Nghệ An đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự; Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo H. Áp dụng điểm đ, khoản 2, Điều 134; khoản 2, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Áp dụng khoản 1 Điều 135; điểm i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu B từ 27 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H giữ nguyên những nội dung kháng cáo theo đơn kháng cáo và đơn kêu oan của bị cáo H và đề nghị Hội đồng xứt xử xem xét vấn đề sau: Về lời khai giữa những người làm chứng có nhiều mâu thuẫn, không hợp, tạo sự bất lợi cho bị cáo H, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Quá trình đối đáp đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo giữ nguyên quan điểm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Bị cáo Nguyễn Hữu B không có ý kiến gì, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H làm trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về sự vắng mặt của người làm chứng: Đây là phiên tòa được mở lần thứ hai, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với những người làm chứng nhưng họ vẫn vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt những người làm chứng không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 293 của BLTTHS, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án là đúng theo quy định của pháp luật.
[3] Về nội dung: Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H
[3.1] Đối với kháng cáo cho rằng bản án sơ thẩm xét xử bị cáo H về tội “Cố ý gây thương tích” là không đúng: Bị cáo Nguyễn Văn H cho rằng, bị cáo là người bị Nguyễn Văn B1 đánh trước bị thương nên bị cáo mới có hành vi sử dụng cốc thủy tinh gây thương tích cho Nguyễn Hữu B tại vùng mặt.
Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra bị cáo H và bị cáo B đều cho rằng mình là người bị đánh trước nên mới có hành vi dùng cốc thủy tinh đánh lại đối phương. Tuy nhiên, cứ các tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra, lời khai của chị Nguyễn Bảo H2 (BL 154 – 155), lời khai Hà Văn Anh Q(BL 183) phù hợp với lời khai của bị cáo Nguyễn Hữu B và lời khai của những người làm chứng anh Dương Chí T3, chị Nguyễn Phạm Lê N1, chị Nguyễn Bảo H2, chị Trần Thị H3, anh Hồ Sỹ Q1 và anh Trần Đình M đều phù hợp nhau, phù hợp với biên bản xem xét dấu vết trên thân thể của Nguyễn Hữu B lập ngày 12/6/2023, đều này thể hiện sự việc xảy ra khách quan đúng như lời khai của bị cáo Nguyễn Hữu B (vừa là bị hại) và những người làm chứng, chứng kiến trực tiếp. Do đó, đủ cơ sở xác định sau khi bị cáo B can ngăn bị cáo H3 không đánh anh Q thì bị cáo H3 đã dùng cốc bia đánh bị cáo B trước, bị cáo B đánh sau. Do đó, bản án sơ thẩm kết luận bị cáo H3 dùng cốc bia đánh bị cáo B trước là có căn cứ phù hợp với diễn biến vụ việc xẩy ra. Do đó, bị cáo H3 kháng cáo cho rằng mình là người bị đánh trước là không có căn cứ. Do đó, bản án sơ thẩm xét xử bị cáo H3 về tội “Cố ý gây thương tích” và xử phạt bị cáo B về tội “ Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 và khoản 1 Điều 135 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Tại phiên tòa bị cáo cung cấp 09 đoạn ghi âm ghi lại các cuộc nói chuyện giữa vợ bị cáo H3 với bị cáo B, và một số đoạn nói chuyện giữa vợ chồng bị cáo H3 và người làm chứng. Đối với nội dung này, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã điều tra làm rõ không phải là tình tiết mới, nội dung này đã được xem xét theo trình tự sơ thẩm, không phải là tình tiết mới nên không có căn cứ chấp nhậ, .
[2.2] Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn H thấy rằng. Bị cáo có bố có công với cách mạng (ông D được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng ba) là tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của BLHS. Bị cáo gây thương tích cho bị cáo B 14% sức khỏe, bị cáo bị thương tích 49% và hiện nay có mắt phải bị kết luận mù vĩnh viễn, nếu không điều trị kịp thời sẽ ảnh hưởng đến mắt còn lại. Đối chiếu hành vi và tỷ lệ thương tích bị cáo gây ra thấy rằng bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo có phần nghiêm khắc do đó cần chấp nhận một phần kháng cáo giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo H.
[3] Đối với kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo B: Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo B: Thấy rằng bản án sơ thẩm đã đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nguyên nhân phạm tội và đã quyết định hình phạt đối với bị cáo B là phù hợp và đúng quy định. Tại phiên tòa bị cáo H không xuất trình thêm tình tiết mới nào nên không có căn cứ để xem xét.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 BLTTHS; chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Không chấp nhận kháng cáo tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn B1,
Căn cứ vào điểm đ, khoản 2, Điều 134; khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn H.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 135; điểm i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hữu B.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo Nguyễn Hữu B phạm tội “Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 24 (hai bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu B 27 (hai mươi bảy) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố V nhận được quyết định thi hành án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Giao bị cáo Nguyễn Hữu B cho UBND phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong 01 ngày và không quá 5 ngày trong 01 tuần.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
- - Chi cục THADS Tp Vinh;
- - Công an Tp Vinh;
- - UBND p. Bến Thủy, Tp Vinh;
- - Người tham gia tố tụng;
- - Sở Tư pháp;
- - Lưu Hsơ, Toà hsự.
Nguyễn Thị Hải Minh
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
|
Thành viên Hội đồng xét xử Nguyễn Thị Thu Từ Trần Thị Mỹ Hải |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hải Minh |
|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Vinh, ngày 28 tháng 3 năm 2024 |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi .... giờ .... phút, ngày 28 tháng 3 năm 2024, Tại phòng Nghị án Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Võ Anh S
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Nguyễn Công Thẩm – Nghề nghiệp: Khối trưởng.
2. Bà: Phan Kim Hoa – Nghề nghiệp: Giáo viên nghỉ hưu.
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn H. Sinh ngày 12 tháng 02 năm 1992 Nơi thường trú: Thôn K, xã C, huyện C, Nghệ An; Nơi ở hiện tại: Khối Y, phường H, thành phố V, Nghệ An
2. Họ và tên: Nguyễn Hữu B. Sinh ngày 24 tháng 11 năm 1984 Nơi thường trú: Khối P, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện tại: K, phường B, thành phố V, Nghệ An
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,
QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1. Căn cứ kết tội:
Căn cứ vào điểm đ, khoản 2, Điều 134; khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn H.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 135; điểm i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hữu B.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo Nguyễn Hữu B phạm tội “Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”
Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý.
2. Hình phạt áp dụng đối với các bị cáo:
Về hình phạt:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu B 27 (hai mươi bảy) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố V nhận được quyết định thi hành án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Giao bị cáo Nguyễn Hữu B cho UBND phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong 01 ngày và không quá 5 ngày trong 01 tuần.
Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý.
3. Về các vấn đề khác:
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Căn cứ các Điều 584; 585; 586; 590 của Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải bồi thường cho anh Nguyễn Hữu B các khoản sau: Chi phí khám, chữa bệnh, thuốc điều trị: 1.600.000 đồng; Chi phí bồi dưỡng phục hồi sức khỏe 160.000 đồng; bồi thường bù đắp về tổn thất tinh thần 12.600.000 đồng; Thu nhập thực tế bị mất của người bị thiệt hại 2.400.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo Nguyễn Văn H phải bồi thường cho anh Nguyễn Hữu B là 16.760.000 đồng (mười sáu triệu, bảy trăm sáu mươi nghìn đồng).
Buộc bị cáo Nguyễn Hữu B phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn H các khoản sau: Chi phí khám chữa bệnh, tiền thuốc, tiền viện phí với số tiền 28.698.742 đồng; T7 thuê xe cấp cứu và vé máy bay 9.775.000 đồng; Thu nhập thực tế bị mất của người bị thiệt hại là 24.960.000 đồng; Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại là 24.960.000 đồng; Bồi thường bù đắp về tổn thất tinh thần 45.000.000 đồng. Tổng số tiền mà bị cáo Nguyễn Hữu B phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn H là 139.029.742đ (Một trăm ba mươi chín triệu không trăm hai mươi chín nghìn, bảy trăm bốn mươi hai đồng).
Đối trừ nghĩa vụ cho nhau nay bị cáo Nguyễn Hữu B còn phải bồi thường cho Nguyễn Văn Hằng s tiền: 122.269.742 đồng (một trăm hai mươi hai triệu, hai trăm sáu mươi chín nghìn, bảy trăm bốn mươi hai đồng).
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án làm đơn yêu cầu thi hành án khoản tiền nêu trên, nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền này thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 2, Điều 106 BLTTHS; khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy nhiều mảnh vỡ của cốc thủy tinh màu trắng, trong đó có 01 đế cốc có quai cầm bị gãy, đế cốc tròn có đường kính 5cm và 02 mảnh vở cốc thủy tinh có chữ H4 đều được bỏ vào trong 1 túi bóng màu đỏ niêm phong theo quy định. Vật chứng có tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An theo Phiếu nhập kho số NK2024/112 ngày 11 tháng 3 năm 2024.
Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, 838.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 4.704.500 đồng án phí đối với yêu cầu bồi thường không được Tòa án chấp nhận. Buộc bị cáo Nguyễn Hữu B phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, 6.951.000 đồng (làm tròn) án phí dân sự sơ thẩm và 1.662.000 đồng án phí đối với yêu cầu bồi thường không được Tòa án chấp nhận.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331; 332; 333; 334 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo, bị hại, người bào chữa cho bị cáo H, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Kết quả biểu quyết: 3/3 đồng ý.
Nghị án kết thúc vào hồi ... giờ ... phút, ngày 28 tháng 3 năm 2024.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Anh Sơn |
Bản án số 94/2024/HS-PT ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về vụ án hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 94/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: phạm tội
