|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 94/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 10-6-2024
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phượng Tường.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Đức Tâm.
- Ông Trương Văn Te.
- Thư ký phiên Tòa: Bà Võ Thị Lan Chi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
Ngày 10/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 110/2024/TLST–HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 186/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/5/2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Trúc Linh E, sinh năm 1988.
Địa chỉ: số nhà A, T, phường T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. -
Bị đơn: Anh Trần Tố H, sinh năm 1989.
Địa chỉ: số nhà A, ấp H, xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre.
(Chị Linh E1, anh H vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Trần Thị Trúc Linh E trình bày:
Chị và anh H tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang vào ngày 13/12/2017. Sau khi kết hôn, thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh H chơi cờ bạc dẫn đến gây nợ. Khi biết được sự việc, chị nhiều lần khuyên ngăn, anh H cam kết sửa đổi nhưng sau đó lại tiếp tục chơi và mượn nợ nhiều lần. Từ tháng 4/2023, chị đưa hai con chung về nhà cha mẹ ruột sinh sống cho đến nay. Trong thời gian này, chị và anh H không liên lạc, không tạo điều kiện hàn gắn và anh H chỉ đến thăm con một lần vào ngày 10/3/2024 (âm lịch). Chị xác định không còn tình cảm nên yêu cầu được ly hôn với anh H. Chị và anh H có 02 con chung là Trần Thị Quỳnh N, sinh ngày 22/10/2017 và Trần Nhã Ý, sinh ngày 20/3/2020, hai con đang sống với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 900.000 đồng/cháu/tháng. Tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình tố tụng, bị đơn anh H vắng mặt không lý do và không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu của chị Linh E1.
Tại phiên tòa:
Chị Trần Thị Trúc L Em vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Anh Trần Tố H vắng mặt không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về thủ tục: Chị Trần Thị Trúc L Em khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con với anh Trần Tố H; anh H có địa chỉ tại huyện G, tỉnh Bến Tre. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
Tại phiên toà, nguyên đơn chị L Em vắng nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; riêng bị đơn anh H mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, việc đưa vụ án ra xét xử là phù hợp với quy định tại các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
-
Về hôn nhân: Chị Linh E1 và anh H tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang vào ngày 13/12/2017. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị Linh E1 và anh H là hợp pháp. Chị Linh E1 yêu cầu được ly hôn với anh H, Hội đồng xét xử xét thấy:
Theo lời trình bày của chị Linh E1 thì do anh H chơi cờ bạc dẫn đến nợ nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Sau đó, nhiều lần chị Linh E1 khuyên ngăn nhưng anh H không sửa đổi. Chị Linh E1 đưa con về nhà cha mẹ ruột sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ tháng 4/2023 cho đến nay. Trong thời gian này, hai bên không liên lạc, không tạo điều kiện hàn gắn. Trong quá trình tố tụng, chị Linh E1 cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, kiên quyết ly hôn và yêu cầu xét xử vắng mặt. Anh H mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn không tham gia các phiên hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa thể hiện việc không có thiện chí hàn gắn. Vì vậy, có cơ sở xác định tình trạng mâu thuẫn giữa hai bên đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, xét yêu cầu ly hôn của chị L Em là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật tại các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
-
Về con chung: Chị Linh E1 yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung là Trần Thị Quỳnh N, sinh ngày 22/10/2017 và Trần Nhã Ý, sinh ngày 20/3/2020, anh H không tranh chấp nuôi con. Xét thấy, các con chung đều là bé gái và đang sống với chị Linh E1. Do vậy, để bảo đảm sự phát triển tốt nhất về tâm, sinh lý; ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống của con nên giao cháu N và cháu Ý cho chị Linh E1 trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.
Trong quá trình tố tụng, chị Linh E1 yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật, cụ thể là số tiền 900.000 đồng/cháu/tháng. Xét thấy, yêu cầu của chị Linh E1 là để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của con chung và phù hợp với quy định tại Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận. Thời gian thực hiện việc cấp dưỡng được tính từ ngày 10/6/2024.
- Về tài sản chung: Chị Linh E1 khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Chị Linh E1 khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: chị Linh E1, anh H phải nộp theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 107 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Trúc Linh E.
- Về hôn nhân: chị Trần Thị Trúc Linh E được ly hôn với anh Trần Tố H.
-
Về con chung: giao cháu Trần Thị Quỳnh N, sinh ngày 22/10/2017 và cháu Trần Nhã Ý, sinh ngày 20/3/2020 cho chị Trần Thị Trúc Linh E trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.
Anh Trần Tố H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi mỗi con chung số tiền 900.000 (chín trăm nghìn) đồng/tháng cho đến khi cháu Trần Thị Quỳnh N, cháu Trần Nhã Ý đủ 18 tuổi. Thời gian thực hiện việc cấp dưỡng được tính từ ngày 10/6/2024.
Anh Trần Tố H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung: chị Trần Thị Trúc Linh E khai không có nên không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: chị Trần Thị Trúc Linh E khai không có nên không xem xét giải quyết.
-
Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: buộc chị Trần Thị Trúc Linh E phải nộp số tiền là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0004753 ngày 07/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm. Do đó, án phí sơ thẩm, chị Trần Thị Trúc Linh E đã nộp xong.
Buộc anh Trần Tố H phải nộp số tiền là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm.
-
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Phượng Tường |
Bản án số 94/2024/HNGĐ-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 94/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Linh E yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con với anh H
