Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2024/HS-ST

Ngày 10-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Khánh
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bế Thị Chiêu,
  • Bà Trương Thị Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Biên - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Đinh Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 01/2024/TL-ST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 400/2024/QĐXXNST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Kỹ T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 20/8/1957, tại: N, P, Hà Nội; Nghề nghiệp: Tư vấn giám sát công trình tại Công ty cổ phần T7; Trình độ văn hóa: 10/10 PT; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nơi thường trú: Tổ C, phường T, quận C, thành phố Hà Nội; Con ông: Phạm Phát N, sinh năm 1935; Con bà: Lê Thị Đ (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1964; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1987, con nhỏ sinh năm 1993; Gia đình có 05 anh, em ruột bị cáo là con cả; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Đức A - Sinh năm 1960; Trú tại: Thôn T, xã A, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Ông Trần Đức A (sinh năm 1960; Trú tại: thôn T, xã A, thành phố H, tỉnh Hải Dương) có đơn tố giác về tội phạm với nội dung: Ông Trần Đức A là tư vấn giám sát cho Công ty cổ phần T7, thực hiện tư vấn giám sát thi công 02 (hai) công trình do Ban Quản lý bảo trì đường bộ thuộc Sở Giao thông vận tải tỉnh C làm chủ đầu tư, gồm: Công trình sửa chữa cục bộ nền, mặt đường Q. đoạn Km 74 - Km82+500 và công trình xử lý các vị trí có nguy cơ mất an toàn giao thông đoạn Km327+600 - K, Quốc lộ Đ tỉnh Cao Bằng (02 công trình); Ông Trần Đức A không được ký bất cứ giấy tờ tài liệu gì liên quan đến gói thầu tư vấn giám sát (hồ sơ hoàn công, nhật ký thi công,...) của 02 (hai) công trình trên. Ông Trần Đức A nghi ngờ ông Phạm Kỹ T (sinh năm 1957; trú tại: Tổ C, phường T, quận C, thành phố Hà Nội; là tư vấn giám sát trưởng) đã giả mạo chữ ký Trần Đức A tại hồ sơ hoàn công, nhật ký thi công.

Ngày 02/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 08/QĐ-CSKT. Tại Kết luận giám định số 98/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh C; Kết luận: Chữ ký đứng tên Trần Đức A trên “NHẬT KÝ THI CÔNG XÂY DỰNG, ngày 31/10/2020”, “NHẬT KÝ THI CÔNG XÂY DỰNG, ngày 30/10/2020”, “NHẬT KÝ THI CÔNG XÂY DỰNG, ngày 27/11/2020” so với chữ ký đứng tên Trần Đức A trên “BIÊN BẢN GHI LỜI KHAI”; “ĐƠN KIẾN NGHỊ” không phải do cùng một người ký ra.

Căn cứ kết luận giám định, xác định Phạm Kỹ T đã giả mạo chữ ký của Trần Đức A. Đến ngày 03/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự và Quyết định khởi tố bị can đối với Phạm Kỹ T, về tội giả mạo trong công tác, quy định tại khoản 1 Điều 359 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra, xác định: Dự án sửa chữa hư hỏng cục bộ nền, mặt đường và công trình trên tuyến đoạn Km75-Km82+500, Quốc lộ C, tỉnh Cao Bằng được triển khai thi công từ ngày 01/10/2020 và hoàn thành đưa vào sử dụng từ ngày 31/01/2021. Dự án do Sở Giao thông vận tải tỉnh C làm chủ đầu tư; Công ty cổ phần T7 (Công ty T7) là đơn vị tư vấn giám sát; Nhà thầu thi công xây lắp là liên danh giữa Công ty cổ phần C (sau đây gọi tắt là Công ty C) là đơn vị thi công đoạn Km75-Km77+899,67 và Công ty trách nhiệm hữu hạn Q (sau đây gọi tắt là Công ty Q) thi công đoạn Km77+899,67 - Km82+500. Theo Quyết định số 410/QĐ-BQLBTĐB ngày 15/6/2020 về việc phân công nhiệm vụ quản lý giám sát tuyến và quản lý điều hành các công trình sửa chữa cho viên chức Ban quản lý bảo trì đường bộ năm 2020, ông Dương Công T2 (sinh năm 1977; trú tại: Tổ 1, phường S, TP C, tỉnh Cao Bằng) là Trưởng phòng kỹ thuật giám sát thuộc Ban Quản lý bảo trì đường bộ - Sở Giao thông vận tải tỉnh C được giao nhiệm vụ quản lý giám sát dự án nêu trên.

Gói thầu tư vấn giám sát của Công ty T7 được thực hiện theo hình thức chỉ định thầu rút gọn, giá trị gói thầu là 436.320.000đ (Bốn trăm ba mươi sáu triệu, chín trăm hai mươi nghìn đồng) đã bao gồm VAT. Ngày 26/8/2020, Nguyễn Văn T3 (là Giám đốc Công ty T7, sinh năm 1981; trú tại: số nhà 08 Đ P, Đ, Hà Nội) đã ký Biên bản thương thảo, hoàn thiện hợp đồng với Sở Giao thông vận tải tỉnh C, trong Biên bản ghi rõ kiến nghị nhân sự phân công Phạm Kỹ T (tư vấn giám sát trưởng), Nguyễn Văn T4 (tư vấn giám sát viên), Nguyễn Văn K (tư vấn giám sát viên). Ngày 18/9/2020, Sở Giao thông vận tải tỉnh C ra Quyết định số 2066/QĐ-SGTVT về việc phê duyệt chỉ định nhà thầu cung cấp dịch vụ tư vấn gói thầu: Tư vấn giám sát thi công công trình: Sửa chữa hư hỏng cục bộ nền, mặt đường và công trình trên tuyến đoạn Km75-Km82+500, QL.34, tỉnh Cao Bằng, chỉ định Công ty cổ phần T7 làm nhà thầu tư vấn giám sát thi công.

Ngày 21/9/2020, Nguyễn Văn T3 (là Giám đốc Công ty T7) ký kết hợp đồng tư vấn giám sát thi công số 03/2020/HĐTVGS-01.QL34 với Sở Giao thông vận tải tỉnh C. Tuy nhiên do Ông Trần Văn T4 chuyển chuyên công tác, không thể đảm nhiệm tư vấn giám sát cho dự án trên, Công ty đã có Công văn số 550/TEDINORTH-TVGS ngày 29/9/2020 về việc thay đổi nhân sự gói thầu tư vấn giám sát, đề xuất Trần Đức A đảm nhiệm tư vấn giám sát viên thay thế cho Nguyễn Văn T4 kể từ ngày 30/9/2020. Sở Giao thông vận tải tỉnh C đã chấp thuận và ban hành Công văn số 2181/SGTVT-BQLBT ngày 02/10/2020.

Khi triển khai thi công dự án, Công ty T7 chỉ phân công Phạm Kỹ TTrần Đức A thực hiện tư vấn giám sát cho dự án, không có mặt ông Nguyễn Văn K. Phạm Kỹ T (tư vấn giám sát trưởng) đã phân công Trần Đức A giám sát gói thầu thi công xây lắp của Công ty C, Phạm Kỹ T giám sát gói thầu xây lắp của Công ty TNHH Q. Đến khoảng cuối tháng 10/2020, Công ty Q hỏi Trần Đức A đến dự án sửa chữa đường thuộc chợ C1, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để giám sát dự án. Từ khoảng đầu tháng 11/2020 đến khi hoàn thành công trình, một mình Phạm Kỹ T giám sát công trình: Sửa chữa hư hỏng cục bộ nền, mặt đường và công trình trên tuyến Km75-Km 82+500, Quốc lộ C, tỉnh Cao Bằng.

Cuối năm 2020, đầu năm 2021 khi dự án đến giai đoạn hoàn thành, thực hiện các thủ tục hoàn thiện hồ sơ thanh, quyết toán công trình và bàn giao đưa vào sử dụng, Trần Mạnh T5 (là nhân viên Phòng Kế hoạch - Kỹ thuật của Công ty C, sinh năm 1996, trú tại: tổ A Sông C, TP ., tỉnh Bắc Kạn) là người trực tiếp lập, hoàn thiện các hồ sơ hoàn công (trong đó có Nhật ký thi công) và các hồ sơ thanh, quyết toán. Quá trình hoàn thiện hồ sơ Trần Mạnh T5 có gọi điện cho Phạm Kỹ T để hỏi xin ý kiến về nội dung trong Nhật ký thi công phần “NGƯỜI GIÁM SÁT THI CÔNG” ghi tên ai, Phạm Kỹ T đã trả lời Trần Mạnh T5 là để tên “Trần Đức A” là đại diện cho đơn vị tư vấn giám sát, còn các hồ sơ khác để tên Phạm Kỹ T (tư vấn giám sát trưởng) ký đại diện đơn vị tư vấn giám sát.

Sau khi đã hoàn thiện các hồ sơ hoàn công, hồ sơ thanh, quyết toán, Trần Mạnh T5 đã trực tiếp đến nhà để đưa cho Phạm Kỹ T các hồ sơ hoàn công, hồ sơ thanh, quyết toán; do Phạm Kỹ T mong muốn nhanh chóng hoàn thiện hồ sơ hoàn công để công trình được nghiệm thu đưa vào sử dụng và thanh, quyết toán công trình; Phạm Kỹ T đã nhắn tin qua ứng dụng Zalo cho Trần Đức A để yêu cầu A chụp gửi mẫu chữ ký gửi cho T để tạo điều quản lý, do tin tưởng nên A đã chụp ảnh lại mẫu chữ ký và gửi tin cho T theo yêu cầu. Sau khi có mẫu chữ ký của Phạm Đức A1, Phạm Kỹ T đã tự đặt bút và giả mạo chữ ký của Trần Đức A để ký vào nhật ký thi công với tổng số 89 (tám mươi chín) chữ ký giả mạo.

Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Kỹ T đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C lập hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội: “Giả mạo trong công tác” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 359 Bộ luật Hình sự.

Ngày 23/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã ban hành cáo trạng số: 50/CT-VKSCB-P1, truy tố bị cáo Phạm Kỹ T về tội “Giả mạo trong công tác” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 359 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Kỹ T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố và thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về tội “Giả mạo trong công tác” là đúng, không oan.

Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên tham gia phiên toà trình bày lời luận tội đánh giá các tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, khẳng định quyết định truy tố bị cáo về tội “Giả mạo trong công tác” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 359 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật đã viện dẫn nêu trên. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Kỹ T phạm tội “Giả mạo trong công tác”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 359; điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Kỹ T từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Phạm Kỹ T không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác được cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ để kết luận: Phạm Kỹ T (là tư vấn giám sát trưởng) và Trần Đức A (là tư vấn giám sát viên) đều là người có chức vụ, quyền hạn được Công ty T7 giao nhiệm vụ giám sát thi công đối với Công trình sửa chữa hư hỏng cục bộ nền, mặt đường và công trình trên tuyến đoạn Km75-Km82+500, Quốc lộ C, tỉnh Cao Bằng. Phạm Kỹ T vì muốn nhanh chóng hoàn thiện hồ sơ hoàn công để Công trình được nghiệm thu, đưa vào sử dụng và thanh quyết toán đúng thời hạn nên Phạm Kỹ T đã thực hiện hành vi giả mạo chữ ký của Trần Đức A là người có chức vụ, quyền hạn có thẩm quyền ký “Nhật ký thi công” của Công trình sửa chữa hư hỏng cục bộ nền, mặt đường và công trình trên tuyến đoạn Km75-Km82+500, Quốc lộ C, tỉnh Cao Bằng. Phạm Kỹ T một mình thực hiện việc ký giả mạo chữ ký của Trần Đức A, không được ai khác chỉ đạo và không vì mục đích vụ lợi.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm hoàn thiện hồ sơ để thanh quyết toán công trình. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giả mạo trong công tác”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 359 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tư vấn thiết kế và xây dựng giám sát công trình giao thông được pháp luật bảo vệ; gây ảnh hưởng xấu đến uy tín trong công tác quản lý, xây dựng công trình giao thông mà mình có trách nhiệm quản lý. Do đó, cần phải được xử lý nghiêm minh đối với bị cáo để đảm bảo bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.

[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Trước khi phạm tội bị cáo là một công dân luôn chấp hành tốt đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước và các quy định khác tại nơi cư trú. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án. Ngoài ra, bị cáo còn có bố đẻ là Phạm Phát N được Nhà nước tặng 01 Huy chương kháng chiến hạng nhất và 01 Huân chương kháng chiến hạng nhất. Vì vậy bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1 và tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo phạm tội không vì mục đích vụ lợi. Do vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội khi cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú, giám sát và giáo dục cũng đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

[4] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[5] Về các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Văn T3Trần Mạnh T5: Quá trình điều tra, xác định đều không biết, không chỉ đạo và xúi giục Phạm Kỹ T thực hiện việc giả mạo chữ ký của Trần Đức A, nên không đủ cơ sở để xử lý trách nhiệm hình sự đối với những người này.

Đối với Công ty cổ phần T7: là nhà thầu tư vấn giám sát; quá trình thực hiện Công ty T7 đã không bố trí tư vấn giám sát theo Hợp đồng, không thực hiện công việc giám sát thi công theo quy định tại Điều 21 của Hợp đồng đã ký kết. Công ty T7 chịu chế tài xử lý của các Cơ quan có thẩm quyền theo Nghị định 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017 về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng; tuy nhiên thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi tại nghị định trên là 01 (một) năm nên đã hết thời hiệu xử phạt hành chính, do đó không có căn cứ xử lý hành chính đối với Công ty T7.

Đối với Dương Công T2 là Trưởng phòng kỹ thuật giám sát thuộc Ban Quản lý bảo trì đường bộ - Sở Giao thông vận tải tỉnh C được giao nhiệm vụ quản lý giám sát dự án; Dương Công T2 không có trách nhiệm phải thường xuyên ở tại công trình để giám sát tiến độ, chất lượng của dự án. Việc giả mạo chữ ký của bị cáo Phạm Kỹ T, Dương Công T2 không biết và cũng không có trách nhiệm phải xem xét, thu thập tài liệu, sổ sách phải cùng người ký hay không. Quá trình điều tra, thu thập tài liệu nhận thấy Dương Công T2 không được hưởng lợi từ việc trên, do đó không có căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự.

[6] Quan điểm của Viện kiểm sát: Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Kỹ T về mức hình phạt và các vấn đề khác là có căn cứ pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Kỹ T phạm tội “Giả mạo trong công tác”.

Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 359; Điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Kỹ T 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, quận C, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Phạm Kỹ T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) để sung công quỹ Nhà nước.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Cao Bằng;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh CB;
  • - Sở Tư pháp CB;
  • - Cục KTNV&THA;
  • - Cục THA dân sự;
  • - NBTFL;
  • - UBND phường Trung Hoà;
  • - Lưu hồ sơ HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Vân Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 94/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG về giả mạo trong công tác

  • Số bản án: 94/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giả mạo trong công tác
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Kỳ T (là tư vấn giám sát trưởng) và Trần Đức A (là tư vấn giám sát viên) đều là người có chức vụ, quyền hạn được Công ty T7 giao nhiệm vụ giám sát thi công đối với Công trình sửa chữa hư hỏng cục bộ nền, mặt đường và công trình trên tuyến đoạn Km75-Km82+500, Quốc lộ C, tỉnh Cao Bằng. Phạm Kỳ T vì muốn nhanh chóng hoàn thiện hồ sơ hoàn công để Công trình được nghiệm thu, đưa vào sử dụng và thanh quyết toán đúng thời hạn nên Phạm Kỳ T đã thực hiện hành vi giả mạo chữ ký của Trần Đức A là người có chức vụ, quyền hạn có thẩm quyền ký “Nhật ký thi công” của Công trình sửa chữa hư hỏng cục bộ nền, mặt đường và công trình trên tuyến đoạn Km75-Km82+500, Quốc lộ C, tỉnh Cao Bằng. Phạm Kỳ T một mình thực hiện việc ký giả mạo chữ ký của Trần Đức A, không được ai khác chỉ đạo và không vì mục đích vụ lợi.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger