TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 94/2025/HS-PT
Ngày 10 - 02 - 2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Minh
- Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thế Lệ và bà Trần Thị Quỳnh .
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Khúc Thị Hoàng Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 1424/2024/TLPT-HS ngày 13 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị T do có kháng cáo của bị cáo và bị hại Phan Thị Q đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 115/2024/HS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- - Bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo: Nguyễn Thị T, sinh ngày 22/8/1990 tại Nghệ An; nơi thường trú: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi ở hiện nay: Xóm L, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Lê Thị T2; có chồng Đào Ngọc Q1 (đã ly hôn) và 03 con: Lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 15/02/2023 đến nay. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đinh Thị Kim T3 - Luật sư Công ty L thuộc Đoàn Luật sư thành phố H. (có mặt)
- - Bị hại có kháng cáo: Bà Phan Thị Q, sinh năm 1973; địa chỉ: Xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà Phan Thị Q, sinh năm 1973; trú tại xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An:
Nguyễn Thị T biết bà Phan Thị Q có chồng mất sớm, là người đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài về có tiền nên nảy sinh ý định lừa đảo để lấy tiền. Đầu năm 2020, T sử dụng 02 số điện thoại 0377.504.xxx có tên Z1 và 0372.167.704 có tên Zalo Cao C, giới thiệu với bà Q đây là bạn của T để làm quen với bà Q. T nói với bà Q, chị Cao T4 là em gái của anh Cao C đều làm Công an, anh Cao C vợ đã chết nên giới thiệu cho bà Q để làm quen. T sử dụng 02 máy điện thoại di động có tài khoản Zalo C và Cao C để nhắn tin với bà Q. Sau một thời gian nhắn tin, bà Q tin tưởng và có tình cảm với anh Cao C. Từ tháng 4/2020 đến tháng 01/2022, T đã lừa bà Q nhiều lần để chiếm đoạt tiền, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Tháng 04/2020, T sử dụng Zalo C nhắn tin với bà Q là “nhà thờ họ anh đang xây ở trên xã C, huyện Q, mà phải đóng tiền đinh suất, em cho anh mượn 80.000.000đ để đóng”, bà Q nhắn tin lại đồng ý cho mượn. T tiếp tục nhắn tin với bà Q “em gọi điện cho T đến nhà lấy tiền rồi T gửi tiền cho anh”, sau đó bà Q gọi điện thoại cho T đến nhà lấy tiền để đưa cho anh Cao C. T đến nhà bà Q lấy 80.000.000đ và nói nhờ gửi tiền cho anh Cao C.
Lần thứ hai: T tiếp tục dùng Zalo C để nhắn tin yêu đương với bà Q làm cho bà Q ngày càng tin tưởng và có tình cảm yêu đương anh Cao C. Khoảng tháng 7/2021, T tiếp tục dùng Z Cao Chính nhắn tin đến Zalo của bà Q “anh mua cho em một chiếc xe ô tô bán tải, anh cho em một nửa tiền, em chịu một nửa tiền”, bà Q đồng ý. T nhắn tin nói với bà Q “em gửi cho anh 280.000.000đ để anh mua xe ô tô cho em, em gọi điện thoại cho T đến nhà lấy tiền gửi cho anh”. Sau đó, bà Q gọi điện cho T đến nhà lấy tiền để gửi cho anh Cao C, bà Q đưa cho T nhiều lần với tổng số tiền là 280.000.000đ, khi đưa tiền bà Q nói nhờ T gửi tiền cho anh Cao C.
Lần thứ ba: Một thời gian không thấy anh Cao C mua xe ô tô và đưa xe về nên bà Q có nhắn tin đến Zalo cho Cao C hỏi thì T sử dụng Zalo Cao Chính nhắn tin lại cho bà Q với nội dung “xe ô tô đang trong nhà O T5 ở V, chưa đưa về được do dịch Covit 19, anh đang bị F0 nên không đưa xe ô tô lên cho em được”. Đến tháng 9/2021, T tiếp tục sử dụng Zalo Cao Chính nhắn tin với bà Q “đưa chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu để làm đăng ký và đưa thêm 50.000.000đ để làm đăng ký xe ô tô” thì bà Q đồng ý. T sử dụng Zalo Cao Chính nhắn tin cho bà Q “gọi điện thoại cho T đến nhà lấy tiền gửi xuống”. Sau đó, bà Q gọi điện thoại cho T đến nhà lấy tiền và chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu. Khi T đến nhà thì bà Q đưa cho T 50.000.000đ kèm theo sổ hộ khẩu và chứng minh nhân dân nói nhờ gửi tiền cho anh Cao C.
Lần thứ tư: Khoảng tháng 10/2021, T dùng Zalo Cao Chính nhắn tin cho bà Q với nội dung “anh và con trai tên Cao P đi Hà Nội để bốc mộ, trên đường đi bị tai nạn, con trai Cao Phố bị gẫy chân, gẫy hết răng, gẫy tay, em cho anh mượn tiền để đưa con vào bệnh viện 108 chữa trị” thì bà Q đồng ý. T tiếp tục dùng Zalo Cao Chính nhắn tin “em gọi điện thoại cho T đến nhà lấy tiền để T gửi ra cho anh”, bà Q đã gọi điện thoại cho T đến nhà lấy tiền. T đến nhà thì bà Q đưa cho T 100.000.000₫ và nói gửi cho anh Cao C để chữa trị cho con trai bị tai nạn.
Lần thứ năm: Thấy bà Q quá tin tưởng, yêu thương Cao Chính nên T tiếp tục sử dụng Zalo Cao Chính nhắn tin lừa bà Q với nội dung “anh mua cho con trai em một thửa đất ở T, em gửi cho anh 100.000.000đ để anh mua đất cho con trai em”, nghe vậy bà Q đồng ý. T sử dụng Zalo Cao C nhắn tin đến Z của bà Q “Em gọi điện thoại cho T để chuyển khoản vào tài khoản của T rồi T chuyển khoản cho anh”. Ngày 24/01/2022, bà Q đã gọi điện thoại cho T lấy số tài khoản để gửi tiền cho Cao C. Sợ sau này bị phát hiện lừa đảo nên T đã nhắn tin cho bà Q chuyển 100.000.000đ vào tài khoản ngân hàng V số 0861000089643 của chị Nguyễn Thị Hải P1 (là vợ của em trai bị cáo). Bà Q mang 100.000.0000đ đến nhà anh Trần Quang H, nhờ anh H chuyển tiền đến số tài khoản của chị P1. Sau đó bà Q nói với chị P1 chuyển vào tài khoản của T tại ngân hàng B số 51310000537463 50.000.000đ. Đến ngày 25/01/2022, chị P1 tiếp tục chuyển vào tài khoản của T ngân hàng 20.000.000₫ và ngày 26/01/2022, chị P1 đưa tiền mặt cho T 30.000.000đ. Số tiền trên, T đã cho ông Ngô Bá H1 vay 80.000.000đ để đáo hạn ngân hàng, sau đó ông H1 đã trả lại cho bà Q, số tiền còn lại T tiêu xài vào mục đích cá nhân.
Lần thứ sáu: Cuối tháng 01/2022, T tiếp tục sử dụng Zalo Cao Chính nhắn tin cho bà Q “anh bị ung thư vòng họng nên cần tiền chữa trị, con anh là Cao P bị gẫy chân cần tiền đưa sang Singapore để mổ, em cho mượn tiền để đưa con sang Singapore điều trị”, bà Q đồng ý. T sử dụng Zalo Cao Chính nhắn tin cho bà Q “gọi điện cho T đến nhà lấy tiền gửi cho anh”. Bà Q gọi điện cho T đến nhà lấy tiền. Khi đến, bà Q đưa cho T 100.000.000đ và nói nhờ gửi tiền cho anh Cao C. Sau khi lừa lấy được tiền của bà Q, T đã dùng tiền đó tiêu xài cá nhân hết.
Một thời gian sau, bà Q nhắn tin đòi nợ anh Cao C thông qua tài khoản Zalo C nhưng Cao C không chuyển tiền trả nên bà Q gọi điện thoại cho T hỏi tiền Cao C vay. Sợ bà Q phát hiện nên T đã đưa cho bà Q 20.000.000đ thông qua chị Phan Thị H2 (là chị gái của chị Q) và đưa cho con trai của bà Q là anh Nguyên Phan Đăng 5. Sau đó, T xóa các tài khoản Zalo Cao Trang và Cao C, vứt hai chiếc điện thoại cài đặt hai tài khoản Zalo nói trên. Bà Q biết bị lừa nên T nhận trách nhiệm bằng cách viết giấy vay nợ số tiền mà bà Q đã chuyển cho Cao C nhưng qua 02 tháng không thấy T hoàn trả nên đã tố cáo T đến cơ quan cảnh sát điều tra.
Bà Q khai đã bị Nguyễn Thị T chiếm đoạt 1.065.000.000đ. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra chỉ chứng minh được T chiếm đoạt của bà Q tổng số tiền là 710.000.000₫.
2. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị P1, sinh năm 1989, trú trại xóm G, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An:
Vào khoảng tháng 8/2023, T quen biết chị Nguyễn Thị P1 nên hai người thường xuyên liên lạc với nhau qua mạng xã hội Zalo. Chị P1 sử dụng tài khoản Zalo “Mai P2” đăng ký bằng số điện thoại 08562097xxx còn T sử dụng tài khoản Zalo “T” đăng ký bằng số điện thoại 0377.990.xxx. Từ cuối tháng 11/2023 đến ngày 01/01/2024, do cần tiền để tiêu xài cá nhân, đầu tư online trên mạng, T đã đưa ra nhiều thông tin gian dối khác nhau nhằm mục đích lừa đảo chiếm đoạt tiền của chị P2, cụ thể là:
Lần thứ nhất: Khoảng giữa tháng 11/2023, T biết vợ chồng chị P2 đang mong muốn sinh con gái. T nói, con của T được sàng lọc, thụ tinh trong ống nghiệm. Thương quen với bác sĩ, có thể liên hệ giúp vợ chồng chị P2 sinh con theo ý muốn. Để tạo lòng tin, T còn tự tạo ra các tin nhắn giữa mình và bác sỹ, sau đó chụp lại và gửi cho chị P2. Tin tưởng, chị P2 đã chuyển tiền cho T nhiều lần vào các ngày 20/11/2023, 21/11/2023, 23/11/2023, với tổng số tiền là 43.000.000đ.
Lần thứ hai: Cùng trong thời điểm nhận giúp vợ chồng chị P2 sinh con theo ý muốn, T nói với chị P2, nhà T hiện thừa ô tô, xe M CX5 đời 2020, nếu chị P2 có nhu cầu mua T bán với giá 300.000.000đ. Do T không có chiếc xe như nêu trên nên đã chụp ảnh một chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda CX5 màu đỏ mà T tình cờ thấy, rồi gửi hình ảnh cho chị P2. Sau khi chị P2 đồng ý mua xe, T lấy nhiều lý do khác nhau yêu cầu chị P2 chuyển, số tiền này tính vào tiền cọc xe. Tổng cộng chị P2 đã chuyển nhiều lần tiền cho T vào các ngày 27/11/2023, 28/11/2023, 29/11/2023, 01/12/2023, 04/12/2023, 06/12/2023, 08/12/2023, 09/12/2023, 11/12/2023 và ngày 12/12/2023, với tổng số tiền là 190.900.000đ.
Lần thứ ba: Cũng trong khoảng thời gian lừa bán xe ô tô nêu trên, khi biết chồng chị P2 chưa có bằng lái xe nên T đưa ra thông tin gian dối có người quen làm trong Trung tâm sát hạch lái xe, chồng T là anh Nguyễn Văn N và em chồng đều làm trong ngành Công an nên có thể bảo đảm 100% thi đạt bằng lái cho chị P2. Thương yêu cầu chị P2 chuyển số tiền 20.000.000đ. Ngày 30/11/2023, chị P2 đã chuyển cho T số tiền trên đây.
Lần thứ tư: Khoảng giữa tháng 12/2023, T nói với chị P2 có một số tiền do bán vàng mà có nên phải đi từ thiện hoặc cho người khác để giải đen chứ không tiêu được nên muốn cho chị P2. Chị P2 từ chối, T nói sẽ dùng tiền đó để mua nhà đất ở dự án V thị xã T, tỉnh Nghệ An cho chị P2 với trị giá là 3.800.000.000₫ nhưng không thực hiện mà vào mạng xã hội đặt làm giả một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên chị P2 với giá 1.000.000đ, rồi gửi hình ảnh giấy chứng nhận được làm giả cho chị P2. Sau nhiều lần T nói chị P2 chuyển tiền để làm thủ tục nộp thuế, chuyển nhượng, sổ đỏ, san nền đất... Do tin tưởng T sang tên quyền sử dụng đất cho mình là thật, chị P2 nhiều lần chuyển tiền cho T từ ngày 14/12/2023 đến ngày 25/12/2023 với tổng số tiền là 182.222.000đ.
Lần thứ năm: Cùng khoảng thời gian lừa chị P2 làm thủ tục sang tên nhà đất, T lên mạng đặt làm giả để nhận 01 (một) ảnh giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên chồng chị P2 là anh Trương Ngọc T6 đối với chiếc xe Mazda CX5, biển kiểm soát 37A-777.89 với giá 1.000.000đ. Thương gửi hình ảnh giấy chứng nhận đăng ký xe giả cho chị P2 đồng thời nói chị P2 chuyển tiền để làm thủ tục sang tên. Chị P2 đã chuyển nhiều lần tiền cho T vào các ngày 28/12/2023, 29/12/2023 với tổng số tiền 42.000.000₫.
Lần thứ sáu: Cùng với khoảng thời gian lừa sang tên nhà đất cho chị P2, T nói tiền bán vàng của mình còn dư nhiều mà tiền này không được tiêu và cũng không cho người nhà được mà chỉ đi từ thiện hoặc cho người ngoài để lấy may. T lên mạng xã hội đặt làm giả 01 sổ tiết kiệm đứng tên chị P2 để nhận hình ảnh với giá 1.000.000đ. Thương gửi cho chị P2 một bức ảnh chụp sổ tiết kiệm mang tên Nguyễn Thị P1 với số tiền gửi là 10.000.000.000đ tại Ngân hàng B ở thành phố V. T nhiều lần nói với chị P1 chuyển tiền cho T để T giải hạn cho anh N là chồng chị P1, số tiền đó trừ vào trong số tiền của sổ tiết kiệm mà T cho chị P1. Chị T đã nhiều lần chuyển tiền cho T vào các ngày 26/12/2023, 28/12/2023, 29/12/2023, 01/01/2024 với tổng số tiền 106.200.000đ.
Tất cả các giao dịch giữa chị P1 và T đều được thực hiện thông qua hình thức chuyển khoản, chị P1 sử dụng số tài khoản Ngân hàng MB mang tên Nguyễn Thị P1, số tài khoản 206186869999. T sử dụng số tài khoản Ngân hàng B mang tên Nguyễn Thị T, số tài khoản 51310000537463 và tài khoản Ngân hàng B, số tài khoản 51310000617365 mang tên Nguyễn Văn N. Số tiền T đã chiếm đoạt của chị P1 là 584.322.000₫.
Tổng số tiền Nguyễn Thị T đã chiếm đoạt của bà Phan Thị Q và chị Nguyễn Thị P1 là 1.294.322.000đ (Một tỷ hai trăm chín tư triệu, ba trăm hai hai nghìn đồng).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 115/2024/HS-ST ngày 28/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; các điểm b, n, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 13 (mười ba) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 08/7/2024, bị cáo Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù. Ngày 11/7/2024, bị hại bà Phan Thị Q có đơn kháng cáo đề nghị tăng nặng hình phạt tù đối với bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị T, bị hại bà Phan Thị Q đều có đơn xin xét xử vắng mặt và cùng đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo; không chấp nhận kháng cáo của bị hại, sửa bản án hình sự sơ thẩm 115/2024/HS-ST ngày 28/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo hướng giảm cho bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù.
Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng như, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu, nhân thân tốt, khi phạm tội bị cáo là phụ nữ có thai và hiện đang phải nuôi con dưới 36 tháng tuổi, bị cáo đã khắc phục một phần hậu quả cho các bị hại để giảm hình phạt cho bị cáo xuống dưới 12 năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Đơn kháng cáo của bị cáo và bị hại gửi trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị T và bị hại bà Phan Thị Q, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm thấy:
[2.1] Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị T tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của các bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, các sao kê lịch sử giao dịch tài khoản tại các Ngân hàng của bị cáo và các bị hại, các thông tin khai thác dữ liệu từ điện thoại, zalo..., cùng các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở khẳng định: Với mục đích nhằm chiếm đoạt tiền, tài sản tại địa bàn tỉnh Nghệ An. Trong khoảng thời gian từ tháng 3 năm 2020 đến tháng 12 năm 2023, bị cáo Nguyễn Thị T đã dùng thủ đoạn gian dối, đưa ra những thông tin sai sự thật để chiếm đoạt của bà Phan Thị Q số tiền 710.000.000đ và của chị Nguyễn Thị P1 số tiền 584.322.000đ. Tổng số tiền bị cáo Nguyễn Thị T đã chiếm đoạt của hai bị hại là 1.294.322.000đ.
Hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng đã lợi dụng lòng tin của người khác để đưa ra các thông tin không đúng sự thật, làm cho các bị hại tin tưởng để chiếm đoạt tài sản, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương, gây dư luận không tốt trong nhân dân. Với hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.2] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội và các lần đều thỏa mãn dấu hiệu cấu thành tội phạm nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên”. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, đây là lần đầu phạm tội. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; khi phạm tội, bị cáo là phụ nữ có thai và hiện tại là mẹ đơn thân, đang phải nuôi 03 con nhỏ, trong đó có con dưới 36 tháng tuổi; sau khi phạm tội, bị cáo đã bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định tại các điểm b, n, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[2.3] Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy: Do bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hiện tại, hoàn cảnh của bị cáo đang một mình phải nuôi 03 con nhỏ... nên cần xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội và lời bào chữa của Luật sư tại phiên tòa để giảm cho bị cáo một phần hình phạt, nhằm thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật; tạo điều kiện giúp cho bị cáo tích cực cải tạo, rèn luyện, sớm được trở về với đời sống xã hội, làm người lương thiện, để tích cực lao động, khắc phục hậu quả cho các bị hại.
Đối với kháng cáo của bị hại: Trong giai đoạn phúc thẩm, bà Phan Thị Q không xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ mới để chứng minh cho kháng cáo tăng nặng hình phạt tù đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị hại Phan Thị Q.
[2.4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[2.5] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại bà Phan Thị Q. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị T. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 115/2024/HS-ST ngày 28/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, điểm g khoản 1 Điều 52, các điểm b, n, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 12 (mười hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án.
[2] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[3] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị T không phải chịu.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quang Minh |
Bản án số 94/2025/HS-PT ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 94/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
