Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2024/HS-PT

Ngày: 09/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

    Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Hiệp Phong;

    Các Thẩm phán:

1. Ông Trần Minh Hải;

2. Ông Hoàng Ngọc Linh.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Dương Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: bà Lê Mai Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 164/2024/TLPT-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Phan Huỳnh S phạm tội “Tham ô tài sản” do có kháng cáo của bị cáo Phan Huỳnh S đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2024/HS-ST ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang theo theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 159/2024/QĐXXPT-HS ngày 24/6/2024 đối với bị cáo:

Phan Huỳnh S, sinh ngày 28/9/1991, tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam xã M; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Hùng D và bà Huỳnh Thị H; bị cáo có vợ tên Triệu Thị Hà M, có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2020; tiền án: không; tiền sự: không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 15/12/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Tố Q – Công ty L, thuộc Đoàn luật sư tỉnh A; địa chỉ: C B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam xã M có tư cách pháp nhân, con dấu, chịu sự quản lý trực tiếp của Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam huyện C và Đảng ủy xã M. Từ ngày 01/02/2021 đến ngày 19/10/2022, Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam xã M ký các Quyết định thành lập Ban vận động Quỹ vì người nghèo xã M và Quỹ phòng, chống dịch Covid-19 xã M, có đăng ký mở 02 tài khoản tại Kho bạc Nhà nước huyện C và Ngân hàng C chi nhánh tỉnh A - Phòng G. Việc thực hiện thu, chi đối với Quỹ vì người nghèo được thực hiện theo Thông tư số 103/2018/TT-BTC ngày 14/11/2018 và Thông tư số 41/2022/TT-BTC ngày 05/7/2022 của Bộ T1; Quy chế xây dựng, quản lý và sử dụng Quỹ vì người nghèo do Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam xã M ban hành. Đối với Quỹ phòng, chống dịch Covid-19 thực hiện theo chỉ đạo của Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam huyện C thành lập Ban vận động để tạo nguồn thu và chi cho các hoạt động phòng chống dịch, việc thu, chi phải lập chứng từ theo quy định và báo cáo cho Ủy ban M huyện.

Ngày 11/9/2020, bị cáo Phan Huỳnh S được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam xã M. Ngoài ra, từ ngày 01/02/2021 đến ngày 19/10/2022, bị cáo S còn được phân công làm Phó Trưởng ban Thường trực, kế toán, thủ quỹ quản lý việc thu, chi nguồn Quỹ vì người nghèo và Quỹ phòng, chống dịch Covid-19 xã M. Tháng 01/2022, bị cáo S nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền từ Quỹ vì người nghèo và Quỹ phòng, chống dịch Covid-19 để điều trị bệnh cho con và tiêu xài cá nhân. Để thực hiện khi tiếp nhận và quản lý tiền mặt từ nguồn tiền vận động từ các Ban ấp bàn giao, các mạnh thường quân đóng góp và Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam huyện C chuyển hỗ trợ, căn cứ vào nhu cầu chi, bị cáo lập chứng từ rút và chi tiền. Sau khi thu, chi số tiền mặt còn tồn theo quy định phải nộp vào tài khoản của 02 nguồn quỹ, nhưng bị cáo không nộp mà nhiều lần chiếm đoạt tiền từ 02 nguồn quỹ trên để tiêu xài. Cụ thể:

  • - Trong giai đoạn từ ngày 10/6/2021 đến ngày 31/12/2021: Phan Thanh Đ là Chủ tịch Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam xã M (chủ tài khoản), Trần Thị Thanh H1 là kế toán, bị cáo S là Phó Trưởng Ban Thường trực của Ban vận động, tiếp nhận và phân phối quỹ phòng, chống dịch Covid-19 được phân công làm nhiệm vụ quản lý tiền mặt, làm chứng từ thu, chi của nguồn quỹ (không phân công nhiệm vụ cụ thể bằng văn bản). Sau khi kết thúc việc phòng, chống dịch Covid-19, tiền mặt của nguồn quỹ còn dư 30.000.000 đồng, bị cáo là người trực tiếp quản lý, Đ đã chỉ đạo bị cáo S nộp vào tài khoản của nguồn Quỹ phòng, chống dịch Covid-19 nhưng bị cáo không thực hiện mà chiếm đoạt số tiền 30.000.000 đồng.
  • - Trong giai đoạn từ ngày 01/02/2021 đến ngày 19/10/2022: Phan Thanh Đ là Chủ tịch Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam xã M (chủ tài khoản), bị cáo S được phân công nhiệm vụ làm kế toán, thủ quỹ, quản lý thu chi tiền mặt, lập hóa đơn, chứng từ thu chi đối với nguồn quỹ vì người nghèo. Tháng 12/2021, Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam xã M rút số tiền 40.000.000 đồng tạm ứng để cất nhà cho hộ nghèo trên địa bàn xã M. Sau đó, Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam huyện C có chuyển vào tài khoản của Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam xã M số tiền 84.000.000 đồng để hỗ trợ cho hoạt động của Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam xã M và bù lại số tiền đã tạm ứng 40.000.000 đồng đã rút trước đó. Theo quy định thì chỉ rút số tiền 44.000.000 đồng và giữ lại tài khoản 40.000.000 đồng đã tạm ứng trước đó, nhưng bị cáo đã làm chứng từ rút hết số tiền 84.000.000 đồng và chiếm đoạt số tiền 40.000.000 đồng.
  • - Trong giai đoạn từ ngày 20/10/2022 đến ngày 03/3/2023: Nguyễn Chí T là Chủ tịch Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam xã M (chủ tài khoản), Trần Thị Thanh H1 là kế toán, bị cáo S là Phó ban và được phân công làm thủ quỹ, nhiệm vụ quản lý thu chi tiền mặt, làm hóa đơn, chứng từ thu chi của nguồn quỹ vì người nghèo. Sau khi kết thúc chương trình quỹ cây mùa xuân là một trong những chương trình của nguồn quỹ vì người nghèo số tiền mặt của nguồn quỹ còn dư 100.450.000 đồng. T yêu cầu bị cáo nộp số tiền này vào tài khoản quỹ vì người nghèo của Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam xã M, nhưng bị cáo không nộp mà chiếm đoạt số tiền 100.450.000 đồng.

Tổng cộng bị cáo S chiếm đoạt 170.450.000 đồng (trong đó: quỹ vì người nghèo là 140.450.000 đồng và quỹ phòng, chống dịch Covid-19 là 30.000.000 đồng). Sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện từ ngày 05/3/2023 đến ngày 24/4/2023 bị cáo đã 04 lần nộp tiền khắc phục hậu quả với tổng số tiền 178.426.000 đồng. Nguồn tiền bị cáo nộp khắc phục là do ông Phan Hùng D cho bị cáo.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2024/HSST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang quyết định: Tuyên bố: bị cáo Phan Huỳnh S phạm tội “Tham ô tài sản”. Căn cứ điểm c, điểm d, điểm đ khoản 2 Điều 353; Điều 38; điểm b, điểm s, điểm v khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Huỳnh S: 05 (năm) tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án; Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo trả cho Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam xã M số tiền 9.976.000 đồng.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án theo quy định pháp luật.

Sau khi xét xử phúc thẩm, ngày 07 tháng 5 năm 2024, bị cáo Phan Huỳnh S có đơn kháng cáo nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phan Huỳnh S thừa nhận hành vi phạm tội như cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử. Bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

* Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi xét hỏi, tranh luận, xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo; xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và yêu cầu kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Phan Huỳnh S, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người bào chữa đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc truy tố, xét xử bị cáo Phan Huỳnh S về tội “Tham ô tài sản” theo điểm c, điểm d, điểm đ khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, cho rằng mức hình phạt mà Tòa án quyết định 05 năm tù đối với bị cáo là nghiêm khắc, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: bị cáo S thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện nộp tiền bồi thường, khắc phục hậu quả; có thành tích xuất sắc trong công tác, được tặng nhiều bằng khen, giấy khen. Bị cáo là lao động chính trong gia đình và đang nuôi 02 con nhỏ đang bị bệnh, trong quá trình cấm đi khỏi nơi cư trú bị cáo luôn chấp hành tốt quy định pháp luật; bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xác nhận bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Đề nghị giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Bị cáo Phan Huỳnh S nộp đơn kháng cáo trong hạn luật định, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phan Huỳnh S khai nhận thực hiện hành vi phạm tội như nội dung án sơ thẩm, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của đại diện bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; cùng các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: bị cáo S đã 03 lần chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý với số tiền 170.450.000 đồng (Quỹ vì người nghèo là 140.450.000 đồng và quỹ phòng, chống dịch Covid-19 là 30.000.000 đồng) và mỗi lần bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo Phan Huỳnh S về tội “Tham ô tài sản” quy định tại điểm c, điểm d, điểm đ khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo Phan Huỳnh S thì thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.

Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi được thực hiện với lỗi cố ý, tài sản chiếm đoạt có trị giá gần 200 triệu đồng. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội để xử phạt bị cáo 05 năm tù (dưới mức khởi điểm của điều luật quy định) là có căn cứ.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới, ngoài các tình tiết giảm nhẹ mà án sơ thẩm đã xem xét, áp dụng, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm như Kiểm sát viên đề nghị.

[4] Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo Phan Huỳnh S không được Hội đồng xét xử chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

[5] Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng có kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • * Căn cứ: điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
  • Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Phan Huỳnh S xin giảm nhẹ hình phạt.
  • Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Áp dụng: các điểm c, d, đ khoản 2 Điều 353; các điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
  • Xử phạt: Bị cáo Phan Huỳnh S 05 (năm) tù về tội “Tham ô tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phan Huỳnh S.
  • Bị cáo Phan Huỳnh S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
  • Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  • Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao TP HCM;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Châu Phú;
  • - TAND huyện Châu Phú;
  • - CQCSĐT huyện Châu Phú;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Phú;
  • - Bị cáo;
  • - PV 06 - Công an tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp An Giang;
  • - Lưu HS, Toà HS, Văn phòng

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lại Hiệp Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 94/2024/HS-PT ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tham ô tài sản (hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 94/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản (Hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Huỳnh S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger