TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 94/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 07 - 8 - 2024
Ly hôn, tranh chấp về nuôi con,
tranh chấp về cấp dưỡng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Trường
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Bình
2. Bà Nguyễn Thị Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
Ngày 07 tháng 8 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 183/2024/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 5 năm 2024; về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, tranh chấp về cấp dưỡng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 173/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 134/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 17 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Cẩm N, sinh năm 1983; nơi cư trú: Số nhà A, đường số B, tổ I, thôn A, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Tống Văn T, sinh năm 1985; nơi cư trú: Số nhà A, đường số B, tổ I, thôn A, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ vụ án và tại phiên toà nguyên đơn trình bày:
Chị Đặng Thị Cẩm N, anh Tống Văn T tự nguyện tìm hiểu, tiến đến hôn nhân và đăng ký kết hôn vào năm 2007, tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Sau khi kết hôn chị N, anh T chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, tư tưởng, suy nghỉ khác biệt, nên không tìm được tiếng nói chung trong việc giải quyết các vấn đề của cuộc sống. Mặc dù cả hai đã cố gắng thay đổi, vun vén nhưng không có kết quả. Hiện nay chị N, anh T vẫn còn sống chung, nhưng không còn yêu thương, quan tâm chăm sóc gì nhau. Chị N không còn tình cảm với anh T nên đề nghị Toà án giải quyết ly hôn. Quá trình chung sống chị N, anh T có hai người con chung là Tống Đặng Duy H, sinh ngày 09/12/2008 và Tống Đặng Minh T1, sinh ngày 13/5/2017. Khi ly hôn chị N có nguyện vọng nuôi con và yêu cầu anh T cấp phải cấp dưỡng tiền nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 đồng/con. Chị N không yêu cầu tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung.
Theo hồ sơ vụ án bị đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân, về con chung anh T thống nhất như phần trình bày của chị N. Sau khi kết hôn vợ anh T, chị N chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, đến năm 2021 thì nảy sinh mẫu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, cả hai đã tự động viên, khuyên bảo nhau thay đổi và tiếp tục chung sống lại với nhau. Tuy đời sống vợ chồng có xảy ra những hiểu lầm, xích mích, mâu thuẫn nhưng anh T vẫn còn tình cảm với chị N nên mong muốn Tòa án cho thời gian để hòa giải đoàn tụ. Trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn, về con chung anh T đề nghị mỗi người nuôi một cháu. Trong trường hợp các con ở với chị N, anh T chỉ có khả năng cấp dưỡng tiền nuôi con với mức từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng/con/tháng. Anh T không yêu cầu toà án giải quyết về tài sản chung, nợ chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Bị đơn anh Tống Văn T hiện cư trú tại huyện Đ nên việc khởi kiện của nguyên đơn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
2
[2] Nguyên đơn chị Đặng Thị Cẩm N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, giải quyết quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con với bị đơn anh Tống Văn T. Do đó, quan hệ pháp luật cần giải quyết là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, tranh chấp về cấp dưỡng” được quy định tại các khoản 1, 5 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt bị đơn anh Tống Văn T không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, cũng không có lý do chính đáng. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vắng mặt anh T tại phiên tòa là phù hợp.
[4] Vụ án Toà án không tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ, đồng thời đối tượng tranh chấp là ly hôn, nuôi con, cấp dưỡng tiền nuôi con nên vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa dân sự sơ thẩm quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[5] Chị Đặng Thị Cẩm N, anh Tống Văn T tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 07/11/2007, số vào sổ 169/07, quyền số 01, tại Ủy ban nhân dân xã Đ nay là thị trấn Đ, huyện Đ đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
[6] Sau khi kết hôn chị N, anh T chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong việc giải quyết các vấn đề trong cuộc sống. Mặc dù chị N, anh T đã tự động viên, an ủi nhay thay đổi, để chung sống hạnh phúc, nhưng không có kết quả. Chị N xác định hiện nay không còn tình cảm với anh T nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Quá trình làm việc anh T cũng thừa nhận cuộc sống vợ chồng thời gian qua có nảy sinh mâu thuẫn. Tại phiên toà chị N cương quyết ly hôn, điều này chứng tỏ tình trạng mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh T đã kéo dài và trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó nếu có tiếp tục chung sống sẽ không tạo dựng được hạnh phúc mà mâu thuẫn sẽ lại càng nghiêm trọng hơn. Nên, cần xử cho chị N được ly hôn với anh T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[7] Cả chị T và anh N đều có nguyện vọng nuôi con. Xét thấy, quyền yêu cầu được nuôi con của các bên là chính đáng. Tuy nhiên, việc giao con cho ai trực
3
tiếp nuôi dưỡng thì cần căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt và xem xét nguyện vọng của con cũng như điều kiện thực tế của người trực tiếp nuôi dưỡng. Bản thân cháu Tống Đặng Duy H, sinh ngày 09/12/2008 và Tống Đặng Minh T1, sinh ngày 13/5/2017 hiện trên 7 tuổi, tại các bản tự khai các con đều có nguyện vọng ở với chị T. Bản thân chị T hiện làm nghề giáo viên, có công việc, thu nhập ổn định. Do đó, để bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên về mọi mặt thì cần giao cho chị N được quyền nuôi các con sẽ giúp các cháu phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần cũng như về mặt tâm, sinh lý là phù hợp.
Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngăn cản. Trường hợp anh T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh T.
[8] Qúa trình làm việc và tại phiên Tòa chị N có yêu cầu anh T phải cấp dưỡng tiền nuôi con là 2.000.000 đồng/con/tháng.
Khoản 1 Điều 82 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”.
Khoản 1 Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của luật này...”
Do đó, yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con của chị N là có căn cứ, bởi lẽ chị N là người trực tiếp nuôi con, nên anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng 2000.000 đồng/tháng/con mà chị N đưa ra phù hợp với mức thu nhập, mức sống tại địa phương, cũng như nhu cầu hiện tại của các con, nên chấp nhận là phù hợp với quy định khoản 2 Điều 82, khoản 1 Điều 107, Điều 110, khoản 1 Điều 116, Điều 117 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chấm dứt trong trường hợp quy định tại Điều 118 luật hôn nhân gia đình năm 2014. Đối với khoản tiền cấp dưỡng, chị T có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án ngay theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi bổ sung.
Vì lợi ích của con, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
4
[9] Về án phí: Chị N phải chịu án phí ly hôn; anh T phải chịu án phí cấp dưỡng.
[10] Về kháng cáo: Các đương sự đều có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 2 Điều 21, khoản 1, 5 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 146; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84; khoản 1 Điều 107, Điều 110, khoản 1 Điều 116, Điều 117, Điều 118 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đặng Thị Cẩm N.
1. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Đặng Thị Cẩm N được ly hôn với anh Tống Văn T.
Giấy chứng nhận kết hôn đăng ký ngày 07/11/2007, số vào số 169/07, quyền số 01, tại Ủy ban nhân dân xã Đ (nay là thị trấn Đ) huyện Đ, tỉnh Bình Thuận hết hiệu lực, kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung:
Giao cho chị Đặng Thị Cẩm N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục người con chung Tống Đặng Duy H, sinh ngày 09/12/2008 và Tống Đặng Minh T1, sinh ngày 13/5/2017.
Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngăn cản. Trường hợp anh T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh T.
5
3. Về cấp dưỡng:
Anh Tống Văn T phải cấp dưỡng tiền nuôi con Tống Đặng Duy H, sinh ngày 09/12/2008 và Tống Đặng Minh T1, sinh ngày 13/5/2017 cho chị Đặng Thị Cẩm N mỗi tháng là 2.000.000 đồng/con (Hai triệu đồng). Chị N có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án ngay, mặc dù bản án có thể bị kháng cáo, kháng nghị. Nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chấm dứt khi phát sinh trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Vì lợi ích của con, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Về án phí:
Chị Đặng Thị Cẩm N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sung công quỹ Nhà nước nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004468, ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh. Anh Tống Văn T phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án, để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.
6. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Đình Trường |
7
Bản án số 94/2024/HNGĐ-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, tranh chấp về cấp dưỡng
- Số bản án: 94/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, tranh chấp về cấp dưỡng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Thị Cẩm Ngự-Tống Văn Thức
