|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 94/2024/HS-ST Ngày 06 tháng 9 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thanh, ông Lê Phương Tùng;
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Hà Tuyết Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: ông Trần Văn Cheo - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử án, Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 81/2024/HSST ngày 08 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Trịnh Thị Kim H, sinh năm 1984; nơi sinh: thành phố C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: tổ I, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: đạo Phật; con ông Trịnh Văn T, sinh 1962 và bà Đinh Thị Hồng H1, sinh 1963; chồng là Nguyễn Phương H2, sinh 1987, con: có 03 người, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2020; anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là người thứ hai; tiền án, tiền sự: không.
- Trần Hoàng T1 (Q), sinh năm 1996; nơi sinh: thành phố C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: Tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; con ông Trần Thá T2 (chết) và bà Huỳnh Thị M, sinh 1968; vợ là Lý Sơn T3, sinh năm 2000; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ út; tiền sự: không; tiền án: Ngày 15/6/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 08 tháng tù về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, đến ngày 25/3/2023 chấp hành xong hình phạt, chưa thi hành xong trách nhiệm dân sự.
- Trần Thị Ngọc B, sinh năm 1983; nơi sinh: thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: tổ G, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: mua bán; trình độ văn hóa: 5/12; giới tính: nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; con ông Trần Bảo T4, sinh 1939 và bà Phan Thị N, sinh năm 1948; chồng là Nguyễn Hồng H3, sinh 1982; con: có 02 người, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2006; anh chị em ruột có 08 người, bị cáo là người thứ sáu; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/02/2024 đến ngày 03/4/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Nhân thân: Ngày 26/9/2011, Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt Trần Hoàng T1 10 (mười) năm tù về tội “Giết người” tại Bản án số 70/2011/HSST ngày 26/9/2011.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/6/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa của bị cáo Trần Hoàng T1: Ông Huỳnh Tấn D, Luật sư Công ty L - thuộc Đoàn Luật sư thành phố H, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Nguyễn Hồng H3, sinh 1982; nơi cư trú: Tổ G, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, có mặt.
- Nguyễn Thanh T5, sinh 1992; nơi cư trú: Tổ G, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.
- Trần Thị S, sinh 1980; nơi cư trú: Tổ C, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.
- Lê Ngọc T6, sinh 2000; nơi cư trú: Tổ G, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.
- Trịnh Văn B1, sinh 1985; nơi cư trú: Tổ G, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.
- Trần Thị Đ, sinh 1970; nơi cư trú: Tổ C, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.
- Trần Thị Đẹp E, sinh 1973; nơi cư trú: Tổ C, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.
Người làm chứng: Lý Sơn T3, sinh 2000 (có mặt); Đinh Thị Hồng H1, sinh 1963; Huỳnh Thị M, sinh 1968; Phạm Văn Điền E1, sinh 1987, tất cả cùng vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 04/02/2024, Công an phường N kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Trịnh Thị Kim H đang tổng hợp phơi số đề bán được trong ngày 04/02/2024, thu giữ tang vật gồm: 06 tờ phơi đề lẻ, 01 tờ phơi đề tổng, 01 điện thoại di động Redme note 10S, 01 cây viết mực màu xanh, 01 tờ giấy than, tiền Việt Nam 3.842.000 đồng cùng nhiều vật dụng dùng để đánh bạc.
Quá trình điều tra, H còn khai nhận, khoảng đầu năm 2023 đến ngày bị bắt 04/02/2024, Trịnh Thị Kim H đã trực tiếp hoặc sử dụng mạng xã hội Zalo tên “Tài Lộc” và tin nhắn SMS trên điện thoại di động để thực hiện việc đánh bạc dưới hình thức ghi bán số lô, số đề được thua bằng tiền cho những người chơi gồm: Trần Thị Ngọc B, Lê Ngọc T6, Nguyễn Thanh T5, Trần Thị S, Nguyễn Hồng H3, Trần Thị Đ, Trịnh Văn B1, Trần Thị Đẹp E và một số người khác (không rõ họ, tên, địa chỉ). Mỗi ngày (gồm đài miền N, miền B) H bán được với số tiền từ 90.000 đồng đến 43.658.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc từ lúc bán cho đến lúc bị phát hiện bắt quả tang là 84.514.000 đồng (được thể hiện trên tin nhắn Zalo trích xuất điện thoại di động thu giữ của H), hưởng lợi 10.000.000 đồng.
Sau khi tổng hợp các phơi đề bán được mỗi ngày vào phơi đề tổng, H chụp ảnh phơi số đề tổng rồi sử dụng tin nhắn Zalo “T” gửi đến tài khoản Zalo “Saocungduoc” của Trần Hoàng T1 để T1 tính tiền thắng thua trực tiếp với những người mua số đề và tính tiền huê hồng cho H. Ngày 04/02/2024, H bán số lô, số đề được số tiền 14.217.000 đồng, trong lúc đang cộng phơi, chưa kịp gửi cho T1 thì bị lực lượng Công an phường N bắt quả tang.
Đối với bị cáo Trần Hoàng T1 không thừa nhận nhận phơi đề từ Trịnh Thị Kim H từ đầu năm 2023 đến ngày bị bắt quả tang, T1 chỉ thừa nhận phơi đề ngày 03/02/2024 từ H. Căn cứ Kết luận giám định trên điện thoại di động của Trịnh Thị Kim H thể hiện vào ngày 03/02/2024, H đã gửi cho T1 số tiền bán số đề là 22.318.000 đồng, sau khi đối chiếu kết quả xổ số ngày 03/02/2024, số tiền người trúng là 21.340.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc của T1 là 43.658.000 đồng. Sau khi trừ đi kết quả thắng thua, Trần Hoàng T1 còn lỗ 1.432.000 đồng.
Trần Thị Ngọc B khai nhận, nhiều lần bán số lô, số đề cho H với số tiền mỗi ngày từ 1.280.000 đồng đến 6.180.000 đồng (trong đó ngày 12/12/2023 số tiền đánh bạc với H là 6.180.000 đồng), B tính thắng thua trực tiếp với H. Ngoài ra, B còn trực tiếp mua số lô, số đề của H ngày 12/10/2023 số tiền đánh bạc 690.000 đồng và ngày 15/10/2023 số tiền đánh bạc 850.000 đồng. Tổng số tiền tham gia đánh bạc 17.159.000 đồng, do bị thua nên không hưởng lợi.
Căn cứ các Kết luận giám định số 243/KL-KTHS ngày 23/3/2024 của Phòng K - Công an tỉnh A, ghi nhận: Tìm thấy dữ liệu nghi vấn có liên quan trong 01 điện thoại di động (ký hiệu: A) do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C gửi giám định, chi tiết thể hiện trong đĩa DVD lưu trữ dữ liệu trích xuất kèm theo, kèm theo kết luận giám định 01 phụ lục (gồm 42 trang A4).
Căn cứ Kết luận giám định số 497/KL-KTHS ngày 21/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh A, ghi nhận: Chữ viết, chữ số trên tài liệu cần giám định (ký hiệu: A) so với chữ viết, chữ số của Trịnh Thị Kim H trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M) do cùng một người viết ra.
Chủ tọa công bố lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa.
Kiểm sát viên trình bày lời luận tội:
Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố các bị cáo H, T1, B về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Căn cứ vào tính chất của vụ án, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trịnh Thị Kim H mức án: Từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm, về tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38, Điều 58, Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Hoàng T1 mức án: Từ 09 tháng đến 01 năm tù, về tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thị Ngọc B mức án: Từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng, về tội “Đánh bạc”.
Xét thấy các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Không.
Về xử lý vật chứng, đề nghị HĐXX áp dụng Điều 46, 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 06 tờ phơi đề lẻ; 01 tờ phơi đề tổng đã thu giữ trong vụ án; tịch thu tiêu hủy các vật chứng: 01 cây viết mực xanh; 01 tờ giấy than; tịch thu sung nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Redmi note 10S, màu xanh (Trịnh Thị Kim H); 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen (Trần Thị Đẹp E), tiền Việt Nam 25.002.000 đồng (Trịnh Thị Kim H 23.842.000 đồng; Trần Thị Đẹp E 430.000 đồng; Trịnh Văn B1 150.000 đồng; Nguyễn Hồng H3 400.000 đồng, Trần Thị Đ 180.000 đồng).
Buộc bị cáo Trịnh Thị Kim H giao nộp số tiền 81.264.500 đồng gồm 10.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính, 40.856.000 đồng tiến H tự làm chủ đề, 21.829.000 đồng là tiền đánh bạc cùng T1, 8.579.500 đồng là tiền đánh bạc cùng B, được khấu trừ 23.842.000 đồng đã tạm giữ của bị cáo H, buộc bị cáo H phải nộp thêm là 57.422.500 đồng.
Buộc bị cáo Trần Hoàng T1 giao nộp số tiền 21.829.000 đồng dùng để đánh bạc cùng H.
Buộc bị cáo Trần Thị Ngọc B giao nộp số tiền 8.579.500 đồng dùng để đánh bạc với H.
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc đang bị tạm giữ 25.002.000 đồng.
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Nokia màu đen, model 1190, số imei 1: 357310087730273, sim Viettel 89840-48000-01870-2485, đã sử dụng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Remi note 10s, màu xanh, số I có gắn thẻ sim mạng Vinaphone có dãy số 89840/20001/07264/19526.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Hoàng T1 trình bày: Thống nhất với cáo trạng về tội danh mà Viện kiểm sát truy tố, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng đối với bị cáo T1. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo T1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, học vấn thấp, nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, vì hoàn cảnh gia đình khó khăn nên mới tham gia đánh bạc. Bản thân không có nghề nghiệp ổn định, vì cuộc sống mưu sinh, nôn nóng kiếm thêm tiền trang trải cuộc sống mà dấn thân vào con đường phạm tội. Nhận thấy T1 tham gia đánh bạc số tiền không lớn, bị cáo mới nhận phơi ngày 03/02/2024 thì bị bắt, bị cáo chưa thu lợi bất chính do bị thua.
Do đó, đề nghị xem xét lại quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị bị cáo nộp lại ½ số tiền đánh bạc cùng với H, xem xét mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ giáo dục, răn đe bị cáo.
Các bị cáo thống nhất với các ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt tiền, xin được hưởng án treo để sớm được trở về với gia đình, tái hòa nhập cộng đồng và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng
- Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Sự vắng mặt của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người làm chứng trong vụ án đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét, đã có lời khai trong quá trình điều tra nên việc vắng mặt tại phiên tòa, không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án theo quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
Về nội dung
- Hành vi phạm tội
- Qua Kết luận giám định trên điện thoại di động của Trịnh Thị Kim H thể hiện vào ngày 03/02/2024, tổng số tiền đánh bạc của H chuyển cho T1 là 43.658.000 đồng, sau khi trừ đi kết quả thắng thua, T1 lỗ 1.432.000 đồng; Bánh nhiều lần bán số lô, số đề cho H, trong đó ngày 12/12/2023 số tiền đánh bạc là 6.180.000 đồng, tổng số tiền tham gia đánh bạc của B là 17.159.000 đồng, do bị thua nên không hưởng lợi.
- Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc với hình thức dưới hình thức mua bán số lô, số đề được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật. Vì vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt là phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của các bị cáo ở giai đoạn điều tra, truy tố và lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng trong vụ án; phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 04/02/2024 do công an thành phố C và công an phường N lập. Ngoài ra, lời khai của các bị cáo còn phù hợp với vật chứng bị thu giữ là 06 tờ phơi đề lẻ; 01 tờ phơi đề tổng; 01 cây viết mực xanh; 01 tờ giấy than; 01 điện thoại di động hiệu Redmi note 10S, màu xanh; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen; tiền Việt Nam 25.002.000 đồng. Từ các căn cứ trên, có cơ sở xác định H, T1, B có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề được thua bằng tiền, với số tiền đánh bạc từ lúc bán cho đến lúc bị phát hiện bắt quả tang của bị cáo H là 84.514.000 đồng qua tin nhắn Zalo trích xuất điện thoại di động thu giữ của H, H hưởng lợi 10.000.000 đồng.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội. Do đó, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố các bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về tính chất, mức độ, vai trò của từng bị cáo
- Về nhân thân của các bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Đối với bị cáo T1, quá trình điều tra, tại phiên tòa luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tuy nhiên, do bị cáo T1 chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này bị áp dụng tình tiết tăng nặng tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Do vậy, cần chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, cần cách ly bị cáo T1 ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
- Tại phiên tòa, phần luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát, về việc áp dụng hình thức phạt tù nhưng cho hưởng án treo và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo H, T1, B là có căn cứ, đúng người, đúng tội và lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và hình phạt đối với các bị cáo, phù hợp đúng với tính chất, mức độ và hành vi, vai trò của các bị cáo nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Việc người bào chữa cho bị cáo T1 đề nghị xem xét miễn áp dụng cho bị cáo T1 được miễn nộp tiền đánh bạc không có căn cứ chấp nhận theo Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán hướng dẫn đường lối xử lý tội đánh bạc và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định về xử lý vật chứng.
- Các vấn đề khác
- Về xử lý vật chứng
- Về án phí:
Xét về vai trò của các bị cáo nhận thấy: Trong vụ án này các bị cáo Trịnh Thị Kim H, Trần Hoàng T1, Trần Thị Ngọc B cùng thực hiện hành vi đánh bạc nên xác định đây là vụ án có đồng phạm nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn, vì các bị cáo không có sự phân công, phân hóa vai trò nhiệm vụ cụ thể. Vai trò của bị cáo H là người thực hành, vừa là chủ đề vừa là người giúp sức bị cáo T1, bị cáo B để được hưởng tiền huê hồng; vai trò của bị cáo T1 và B là người thực hành, bị cáo B cũng là người giúp sức đánh bạc với bị cáo H. Xét về tính chất nguy hiểm cho xã hội thì hành vi của bị cáo H có vai trò cao hơn bị cáo T1, B, là nguy hiểm hơn so với các bị cáo khác, số tiền dùng vào việc đánh bạc của bị cáo T1 là ít hơn so với bị cáo H. Vì vậy, khi áp dụng hình phạt sẽ căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà áp dụng cho từng bị cáo, để đảm bảo tính công bằng, nghiêm minh để vừa có tác dụng răn đe giáo dục đối với các bị cáo, vừa có tác dụng tuyên truyền và phòng ngừa chung.
Xét thấy, mặc dù bị cáo H có 01 tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần, tuy nhiên bị cáo H có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật còn hạn chế, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có ông ngoại là người có công cách mạng, Hồng tư nguyện nộp lại toàn bộ số tiền thu lợi bất chính, tích cực hợp tác với cơ quan điều tra khai báo hành vi phạm tội của bị cáo T1, bản thân bị cáo H có các con đang độ tuổi đến trường, còn nhỏ, thành tích học tập giỏi. Đối với Bánh trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, nếu không bắt bị cáo H, B phải chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, cần cho các bị cáo được hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật Hình sự dưới sự giám sát, giáo dục tại địa phương, ấn định thời gian thử thách cũng đủ răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung. Đây là cơ hội để bị cáo H, B phấn đấu sửa chữa lỗi lầm.
Đối với Trịnh Thị Kim H khai nhận ngoài ngày 03/02/2024, H giao phơi số đề cho Trần Hoàng T1 thì trước đó nhiều lần H đã giao phơi số đề cho T1 để hưởng tiền huê hồng. Tuy nhiên, T1 chỉ thừa nhận ngày 03/02/2024 có nhận phơi số đề của H, còn các lần khác T1 không thừa nhận và ngoài lời khai của H thì không còn tài liệu chứng cứ nào khác để xác định việc H nhiều lần giao phơi đề cho T1, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố C chỉ quy kết trách nhiệm hình sự đối với T1 đánh bạc vào ngày 03/02/2024 là có căn cứ.
Các đối tượng Nguyễn Hồng H3, Nguyễn Thanh T5, Trần Thị S, Lê Ngọc T6, Trịnh Văn B1, Trần Thị Đ, Trần Thị Đẹp E tham gia đánh bạc bằng hình thức chơi số lô, số đề được thua bằng nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan điều tra – Công an thành phố C có văn bản đề nghị xử phạt hành chính là phù hợp.
Những người mua số đề của Trịnh Thị Kim H chưa xác định được họ, tên, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 06 tờ phơi đề lẻ; 01 tờ phơi đề tổng đã thu giữ trong vụ án; tịch thu tiêu hủy các vật chứng: 01 cây viết mực xanh; 01 tờ giấy than; tịch thu sung nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Redmi note 10S, màu xanh (Trịnh Thị Kim H); 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Nokia màu đen, model 1190, số imei 1: 357310087730273, sim Viettel 89840-48000-01870-2485, đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Remi note 10s, màu xanh, số I có gắn thẻ sim mạng Vinaphone có dãy số 89840/20001/07264/19526, tiền Việt Nam 25.002.000 đồng (của Trịnh Thị Kim H 23.842.000 đồng; Trần Thị Đẹp E 430.000 đồng; Trịnh Văn B1 150.000 đồng; Nguyễn Hồng H3 400.000 đồng, Trần Thị Đ 180.000 đồng).
Buộc bị cáo Trịnh Thị Kim H giao nộp số tiền 81.264.500 đồng, được khấu trừ 23.842.000 đồng đã tạm giữ của bị cáo H, bị cáo H phải nộp thêm là 57.422.500 đồng.
Buộc bị cáo Trần Hoàng T1 giao nộp số tiền 21.829.000 đồng dùng để đánh bạc cùng H.
Buộc bị cáo Trần Thị Ngọc B giao nộp số tiền 8.579.500 đồng dùng để đánh bạc với H.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án Dân sự ngày 15/8/2024 và giấy nộp tiền số 26460412 ngày 15/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc),
Các bị cáo H, T1, B, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Trịnh Thị Kim H, Trần Hoàng T1 (Q), Trần Thị Ngọc B phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trịnh Thị Kim H 01 năm 06 tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo. Thời gian thử thách đối với bị cáo H là 03 năm, kể từ ngày tuyên án ngày 06/9/2024;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử bị cáo Trần Hoàng T1 (Q) 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ khi bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 09/6/2024.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử bị cáo Trần Thị Ngọc B 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách đối với bị cáo B là 01 năm, kể từ ngày tuyên án ngày 06/9/2024.
- Giao các bị cáo Trịnh Thị Kim H, Trần Thị Ngọc B cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố C, tỉnh An Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Không hình phạt bổ sung cho các bị cáo Trịnh Thị Kim H, Trần Hoàng T1, Trần Thị Ngọc B.
- Xử lý vật chứng
- Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 333, Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết theo quy định pháp luật.
Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 06 tờ phơi đề lẻ; 01 tờ phơi đề tổng đã thu giữ trong vụ án; tịch thu tiêu hủy các vật chứng: 01 cây viết mực xanh; 01 tờ giấy than; tịch thu sung nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Redmi note 10S, màu xanh (Trịnh Thị Kim H); 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Nokia màu đen, model 1190, số imei 1: 357310087730273, sim Viettel 89840-48000-01870-2485, đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Remi note 10s, màu xanh, số I có gắn thẻ sim mạng Vinaphone có dãy số 89840/20001/07264/19526, tiền Việt Nam 25.002.000 đồng (của Trịnh Thị Kim H 23.842.000 đồng; Trần Thị Đẹp E 430.000 đồng; Trịnh Văn B1 150.000 đồng; Nguyễn Hồng H3 400.000 đồng, Trần Thị Đ 180.000 đồng).
Buộc bị cáo Trịnh Thị Kim H giao nộp số tiền 81.264.500 đồng, được khấu trừ 23.842.000 đồng đã tạm giữ của bị cáo H, bị cáo H phải nộp thêm là 57.422.500 đồng.
Buộc bị cáo Trần Hoàng T1 giao nộp số tiền 21.829.000 đồng dùng để đánh bạc.
Buộc bị cáo Trần Thị Ngọc B giao nộp số tiền 8.579.500 đồng dùng để đánh bạc.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án Dân sự ngày 15/8/2024 và giấy nộp tiền số 26460412 ngày 15/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc),
Các bị cáo Trịnh Thị Kim H, Trần Hoàng T1, Trần Thị Ngọc B mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo H, B).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Ngọc Hà |
Bản án số 94/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về đánh bạc
- Số bản án: 94/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 04/02/2024, Công an phường N kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Trịnh Thị Kim H đang tổng hợp phơi số đề bán được trong ngày 04/02/2024, thu giữ tang vật gồm: 06 tờ phơi đề lẻ, 01 tờ phơi đề tổng, 01 điện thoại di động Redme note 10S, 01 cây viết mực màu xanh, 01 tờ giấy than, tiền Việt Nam 3.842.000 đồng cùng nhiều vật dụng dùng để đánh bạc. Quá trình điều tra, H còn khai nhận, khoảng đầu năm 2023 đến ngày bị bắt 04/02/2024, Trịnh Thị Kim H đã trực tiếp hoặc sử dụng mạng xã hội Zalo tên “Tài Lộc” và tin nhắn SMS trên điện thoại di động để thực hiện việc đánh bạc dưới hình thức ghi bán số lô, số đề được thua bằng tiền cho những người chơi gồm: Trần Thị Ngọc B, Lê Ngọc T6, Nguyễn Thanh T5, Trần Thị S, Nguyễn Hồng H3, Trần Thị Đ, Trịnh Văn B1, Trần Thị Đẹp E và một số người khác (không rõ họ, tên, địa chỉ). Mỗi ngày (gồm đài miền N, miền B) H bán được với số tiền từ 90.000 đồng đến 43.658.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc từ lúc bán cho đến lúc bị phát hiện bắt quả tang là 84.514.000 đồng (được thể hiện trên tin nhắn Zalo trích xuất điện thoại di động thu giữ của H), hưởng lợi 10.000.000 đồng. Sau khi tổng hợp các phơi đề bán được mỗi ngày vào phơi đề tổng, H chụp ảnh phơi số đề tổng rồi sử dụng tin nhắn Zalo “T” gửi đến tài khoản Zalo “Saocungduoc” của Trần Hoàng T1 để T1 tính tiền thắng thua trực tiếp với những người mua số đề và tính tiền huê hồng cho H. Ngày 04/02/2024, H bán số lô, số đề được số tiền 14.217.000 đồng, trong lúc đang cộng phơi, chưa kịp gửi cho T1 thì bị lực lượng Công an phường N bắt quả tang. Đối với bị cáo Trần Hoàng T1 không thừa nhận nhận phơi đề từ Trịnh Thị Kim H từ đầu năm 2023 đến ngày bị bắt quả tang, T1 chỉ thừa nhận phơi đề ngày 03/02/2024 từ H. Căn cứ Kết luận giám định trên điện thoại di động của Trịnh Thị Kim H thể hiện vào ngày 03/02/2024, H đã gửi cho T1 số tiền bán số đề là 22.318.000 đồng, sau khi đối chiếu kết quả xổ số ngày 03/02/2024, số tiền người trúng là 21.340.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc của T1 là 43.658.000 đồng. Sau khi trừ đi kết quả thắng thua, Trần Hoàng T1 còn lỗ 1.432.000 đồng. Trần Thị Ngọc B khai nhận, nhiều lần bán số lô, số đề cho H với số tiền mỗi ngày từ 1.280.000 đồng đến 6.180.000 đồng (trong đó ngày 12/12/2023 số tiền đánh bạc với H là 6.180.000 đồng), B tính thắng thua trực tiếp với H. Ngoài ra, B còn trực tiếp mua số lô, số đề của H ngày 12/10/2023 số tiền đánh bạc 690.000 đồng và ngày 15/10/2023 số tiền đánh bạc 850.000 đồng. Tổng số tiền tham gia đánh bạc 17.159.000 đồng, do bị thua nên không hưởng lợi.
