Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÊ LINH - TP HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 94/2024/HS-ST

Ngày 06 tháng 09 năm 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH – TP HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Thanh Phong.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Khánh.

Ông Lê Đình Khoát.

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hạnh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mê Linh – TP Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh - TP Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Thùy Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 06/09/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mê Linh- TP Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 102/2024/TLST-HS ngày 29/08/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2024/QĐXXST- HS ngày 29/08/2024 đối với bị cáo:

1.Họ và tên: Nguyễn Thị H - sinh ngày 13/3/1975; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ C, thị trấn C, huyện M, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): không; Họ và tên bố: Nguyễn Thanh L - sinh năm 1937 – đã chết; Họ và tên mẹ: Đỗ Thị H2 - sinh năm 1937 – đã chết; Anh, chị, em ruột: có 07 người, bị cáo là con thứ bảy; Họ và tên chồng: Nguyễn Việt H3 – sinh năm 1973 – đã ly hôn; Con: bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị khởi tố bị can và áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.

(Có mặt tại phiên toà)

* Người bị hại:

  1. Chị Lê Thanh H4, sinh năm 1984. Địa chỉ thôn T, xã M, huyện S, Hà Nội.(Vắng mặt tại phiên toà)
  2. Ông Đỗ văn L1 sinh năm 1967. Địa chỉ thôn Đ, xã T, huyện M, Hà Nội.(Vắng mặt tại phiên toà)

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần Văn M sinh năm 1980. Địa chỉ xóm G, thôn P, xã T, huyện M, Hà Nội (0981358969).(Vắng mặt tại phiên toà)
  2. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1972. Địa chỉ thôn M, xã T, huyện M, Hà Nội (0985832366).(Vắng mặt tại phiên toà)
  3. Chị Nguyễn Thị Thanh M1, sinh năm 1986. Địa chỉ xã T, huyện S, Hà Nội (0962255062).(Vắng mặt tại phiên toà)
  4. Chị Đỗ Thị P, sinh năm 1952. Địa chỉ thôn Đ, xã T, huyện M, Hà Nội.(Vắng mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 07/12/2023, Công an huyện M đã tiếp nhận nguồn tin về tội phạm theo đơn trình báo của bà Lê Thanh H4 (Sinh năm 1984, trú tại thôn T, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội) với nội dung: tố cáo Nguyễn Thị H có hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản số tiền 80.000.000 đồng thông qua việc H nhận làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H4.

Tiếp đó, ngày 19/01/2024, Công an huyện M tiếp nhận tố giác về tội phạm theo đơn trình báo của ông Đỗ Văn L2 (Sinh năm 1967, trú tại thôn Đ, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội) với nội dung: tố cáo Nguyễn Thị H có hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản số tiền 145.000.000 đồng thông qua việc H nhận làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L2.

Căn cứ vào đơn trình báo của bà Lê Thanh H4 và ông Đỗ Văn L2, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện M đã điều tra làm rõ:

Vụ án thứ nhất: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra tại thôn Đ, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội vào ngày 30/03/2022.

Khoảng tháng 09 năm 2021, do có nhu cầu làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông Đỗ Văn L2 đã nghe cô ruột là bà Đỗ Thị P (sinh năm: 1952, trú tại thôn Đ, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội) giới thiệu biết Nguyễn Thị H là cán bộ văn thư lưu trữ Phòng công chứng số I thành phố Hà Nội có nhận làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông L2 đã liên hệ với H để nhờ H làm giúp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 529, tờ bản đồ 68, diện tích 382,6 m², tại thôn Đ, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội đứng tên bà Hà Thị G (sinh năm: 1932, trú tại thôn Đ, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội) là mẹ đẻ của ông L2, H đồng ý. Sau đó, Nguyễn Thị H đã đến nhà ông L2 lấy hồ sơ giấy tờ liên quan đến thửa đất trên rồi Hân chụp ảnh giấy tờ đó gửi qua ứng dụng Zalo cho ông Trần Văn M (sinh năm: 1980, trú tại: Xóm G, Thôn P, Xã T, Huyện M, Thành phố Hà Nội) – Nguyên Phó Trưởng Phòng Tài nguyên Môi trường huyện M để hỏi xem có làm được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không. Sau khi kiểm tra, ông M trả lời Hân đối với thửa đất trên chỉ làm được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ao. Sau khi trao đổi với ông M, H đến nhà ông L2 để thông báo với ông Lương rằng thửa đất trên làm được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chi phí hết 145.000.000 đồng, bao gồm 95.000.000 đồng tiền thuế và chi phí theo quy định của Nhà nước và 50.000.000 đồng tiền công, trong khoảng 06 tháng ông L2 sẽ nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông L2 đồng ý và đưa cho H số tiền 50.000.000 đồng. H và ông L2 thỏa thuận số tiền 95.000.000 đồng còn lại khi nào bàn giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông L2 sẽ trả nốt. Ngày 20/10/2021, H thuê Công ty cổ phần K (địa chỉ: thôn B, xã K, huyện M, thành phố Hà Nội) tiến hành đo, vẽ hiện trạng thửa đất trên và H đã thanh toán cho Công ty số tiền 1.200.000 đồng phí dịch vụ đo, vẽ. Sau khi có kết quả đo, vẽ hiện trạng, Nguyễn Thị H đem hồ sơ liên quan đến thửa đất trên nộp cho ông Nguyễn Văn T (sinh năm: 1972, trú tại thôn M, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội) – Cán bộ địa chính xã T để nhờ ông T xác minh xem thửa đất trên có cấp được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không. Sau khi xác minh, ông T đã trả lời Hân rằng đối với hồ sơ của thửa đất trên thì không cấp được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, đến ngày 30/3/2022, H vẫn yêu cầu ông L2 giao nốt số tiền 95.000.000 đồng và hứa hẹn sau khoảng một tháng ông L2 sẽ nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông L2 đồng ý và đưa cho H số tiền 95.000.000 đồng. Sau đó, H đã viết Giấy biên nhận đề ngày 30/3/2022 với nội dung đã nhận của ông L2 tổng số tiền 145.000.000 đồng để làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho mẹ của ông L2. Sau khoảng một tháng, đến thời hạn cam kết bàn giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông L2 liên hệ để hỏi thì H đưa ra một số lý do và tiếp tục hẹn sau một khoảng thời gian sẽ xin cấp được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau nhiều lần hứa hẹn, H vẫn không làm được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông L2 đã yêu cầu H trả lại số tiền trên và các loại giấy tờ có liên quan đến thửa đất. Tuy nhiên, H không trả tiền và các loại giấy tờ có liên quan đến thửa đất nên ngày 18/01/2024 ông L2 đã làm Đơn trình báo gửi Công an huyện M để được giải quyết.

Ngày 16/3/2024, sau khi Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện M xác minh vụ việc thì H mới trả số tiền 145.000.000 đồng cho ông L2.

Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện M đã tiến hành xác minh tại Văn phòng Đ – Chi nhánh huyện M và UBND xã T kết quả: các cơ quan này đều chưa từng tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 529, tờ bản đồ 68, diện tích 382,6 m², tại thôn Đ, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội và hiện nay thửa đất trên chưa được Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Vụ án thứ hai: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra tại Tổ C, thị trấn C, huyện M, thành phố Hà Nội vào ngày 25/10/2022.

Khoảng tháng 9 năm 2022, do có nhu cầu làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và biết Nguyễn Thị H làm việc tại Phòng C Hà Nội nên bà Lê Thanh H4 (sinh năm: 1984, trú tại thôn T, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội) đã liên hệ, đến nhà riêng của Nguyễn Thị H để nhờ H làm giúp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 137b, tờ bản đồ số 22, diện tích 485 m², tại thôn T, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội đứng tên bố mẹ chồng của bà H4 thì H đồng ý. Bà H4 đưa cho H một bộ hồ sơ gồm các giấy tờ liên quan thửa đất trên. Sau khi nhận hồ sơ, H báo với bà H4 rằng ngoài các chi phí làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Nhà nước thì bà H4 phải trả cho H 80.000.000 đồng tiền công. Sau khoảng một thời gian suy nghĩ, bàn bạc với gia đình, ngày 16/10/2022, bà H4 đến nhà riêng của H đưa cho H 50.000.000 đồng tiền mặt để H lo thủ tục làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi nào bàn giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà H4 sẽ đưa số tiền 30.000.000 đồng còn lại. H đồng ý và hứa hẹn khoảng một tuần sau sẽ hoàn tất các thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại UBND xã M. Ngày 25/10/2022, H liên hệ với bà H4 qua ứng dụng Z và nói rằng việc làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, H cũng phải nhờ qua người khác nên phải mất chi phí và yêu cầu bà H4 đưa nốt số tiền 30.000.000 đồng thì bà H4 đồng ý. Sau đó, bà H4 đã chuyển khoản số tiền 30.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của H.

Sau một thời gian, không thấy H làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà H4 liên lạc yêu cầu H trả lại hồ sơ và số tiền 80.000.000 đồng nhưng H chỉ trả lại hồ sơ mà không trả lại số tiền trên cho bà H4. Bà H4 liên lạc nhiều lần để giải quyết nhưng H không nghe điện thoại, sau đó bà H4 đến nhà riêng yêu cầu H trả lại số tiền trên nhưng H không trả. Đến khoảng tháng 02 năm 2023, tại nhà riêng của H, bà H4 đã yêu cầu H viết Giấy biên nhận với nội dung đã nhận của bà H4 số tiền 80.000.000 đồng và cam kết đến ngày 20/5/2023 sẽ trả lại bà H4 số tiền trên. Đến hạn trả tiền theo cam kết nhưng H vẫn không trả tiền, bà H4 liên lạc nhiều lần, sau đó H chỉ trả cho bà H4 số tiền 7.000.000 đồng. Sau nhiều lần không liên lạc được với H và H không trả tiền nên ngày 20/09/2023 bà H4 đã làm Đơn trình báo gửi Công an huyện M giải quyết.

Ngày 17/3/2024, sau khi Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện M xác minh vụ việc thì H mới trả nốt số tiền 73.000.000 đồng cho bà H4.

Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện M đã tiến hành xác minh tại Văn phòng Đ – Chi nhánh huyện S và UBND xã M, huyện S kết quả: Các Cơ quan trên đều chưa từng tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 137b, tờ bản đồ số 22, diện tích 485 m², tại thôn T, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội và hiện nay thửa đất trên chưa được Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

* Vật chứng vụ án: Không.

Tại Kết luận giám định số 708/KL-KTHS ngày 18/01/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố H kết luận: “Chữ viết, chữ ký đứng tên Nguyễn Thị H trên Giấy biên nhận tiền với chữ viết, chữ ký đứng tên Nguyễn Thị H trên Biên bản thu mẫu chữ ký, chữ viết ngày 15/01/2024 của Nguyễn Thị H và Bản tường trình ngày 15/01/2024 của Nguyễn Thị H là chữ do cùng một người viết và ký ra”.

Tại Kết luận giám định số 2035/KL-KTHS ngày 21/03/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố H kết luận: “Chữ viết, chữ ký đứng tên Nguyễn Thị H trên Giấy biên nhận đề ngày 30/03/2022 với chữ viết, chữ ký đứng tên Nguyễn Thị H trên Biên bản thu mẫu chữ ký, chữ viết ngày 25/01/2024 của Nguyễn Thị H và Bản tường trình ngày 25/01/2024 của Nguyễn Thị H là chữ do cùng một người viết và ký ra”.

Tại Kết luận giám định số 4629/KL-KTHS ngày 19/07/2024 của V - Bộ C1 kết luận:

“Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong các tệp ghi âm gửi giám định.

Nội dung các cuộc hội thoại trong mẫu âm thanh cần giám định đã chuyển thành văn bản.”

Đối với bà Đỗ Thị P là người đã giới thiệu cho ông Đỗ Văn L2 biết Nguyễn Thị H để ông L2 nhờ H làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: quá trình điều tra xác định, bà P trước đây có vài lần công chứng giấy tờ tại Phòng công chứng số I H nên quen biết H và đã nhờ H hướng dẫn một số thủ tục về làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi biết ông L2 có nhu cầu làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà P đã cho ông Lương số điện thoại của H để ông L2 liên hệ hỏi. Bà P không liên hệ, thỏa thuận gì với H, việc ông L2 thỏa thuận với H như thế nào bà P không biết, không tham gia và không được hưởng lợi gì. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với ông Trần Văn M, ông Nguyễn Văn T: Quá trình điều tra xác định, ông M, ông T không liên quan đến việc H thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên không đề cập xử lý.

* Về trách nhiệm dân sự:

Bị can Nguyễn Thị H đã trả lại toàn bộ số tiền 145.000.000 đồng và hồ sơ liên quan đến thửa đất cho bị hại ông Đỗ Văn L2 và trả lại 80.000.000 đồng và hồ sơ liên quan đến thửa đất cho bị hại bà Lê Thanh H4. Sau khi nhận đủ tiền và hồ sơ, ông L2, bà H4 không còn yêu cầu, đề nghị gì về trách nhiệm dân sự và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, phù hợp tài liệu hồ sơ của vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 102/CT-VKS ngày 27/08/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Mê Linh đã truy tố bị cáo: Nguyễn Thị H về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy rằng:

Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị H đã đủ yếu tố cấu thành tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn, ăn năn, hối cải.

* Về tội danh và hình phạt:

  1. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại: điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo: Nguyễn Thị H
  2. Đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H mức án từ 07 (bẩy) năm tù đến 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Về dân sự và xử lý vật chứng:

Áp dụng điều 47 của Bộ luật hình sự 2015. Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

  • Về trách nhiệm dân sự: Đã bồi thường trả bị hại nên không xét.
  • Về xử lý vật chứng: Không có nên không xét.

* Về án phí:

Người tham gia tố tụng phải chịu án phí theo qui định pháp luật.

* Về quyền kháng cáo:

Người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo qui định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] - Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người tham gia tố tụng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Mê Linh đã truy tố.

HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

Mặc dù không có chức năng, nhiệm vụ trong việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Thị H đã hứa hẹn với ông Đỗ Văn L2 và bà Lê Thanh H4 rằng H làm được thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông L2 và bà H4 để chiếm đoạt số tiền 145.000.000 đồng của ông L2 và 80.000.000 đồng của bà H4. Nhưng sau đó, Nguyễn Thị H đã không thực hiện thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông L2 và bà H4. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 225.000.000 đồng.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Huyện Mê Linh đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo theo nội dung cáo trạng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Hành vi của các bị cáo gây tâm lý lo lắng cho quần chúng nhân dân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự trị an xã hội. Do đó cần thiết phải áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo bị cáo và để giúp bị cáo sống lành mạnh, lao động có ích cho xã hội.

[3] Xét nhân thân bị cáo: không tiền án, không tiền sự.

[4] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa:

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Phạm tội 2 lần theo điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

  • Bị cáo thành khẩn khai báo.
  • Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
  • Gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn.
  • Bị cáo hứa sửa chữa, không vi phạm pháp luật nữa.
  • Bị cáo đã khắc phục bồi thường cho bị hại.
  • Bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo.
  • Bị cáo đã ly hôn, đang nuôi con ăn học.
  • Mẹ đẻ bị cáo có H chương kháng chiến hạng nhất.

(có tài liệu chứng minh lưu giữ hồ sơ).

Nên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Theo điểm b, điểm s khoản 1; khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đối với bị cáo cần phải áp dụng hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội để đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Xét theo qui định pháp luật, áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo mới đủ đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

Xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[5] Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức hình phạt tù giam đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với pháp luật.

[6] Về dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47, điều 48 của Bộ luật hình sự 2015. Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

  • Về trách nhiệm dân sự: Đã bồi thường trả bị hại nên Hội đồng xét xử không xét.
  • Về xử lý vật chứng: Không có. Hội đồng xét xử không xét.

[7] Các vấn đề khác: Đối với bà Đỗ Thị P là người đã giới thiệu cho ông Đỗ Văn L2 biết Nguyễn Thị H để ông L2 nhờ H làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: quá trình điều tra xác định, bà P trước đây có vài lần công chứng giấy tờ tại Phòng công chứng số I H nên quen biết H và đã nhờ H hướng dẫn một số thủ tục về làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi biết ông L2 có nhu cầu làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà P đã cho ông Lương số điện thoại của H để ông L2 liên hệ hỏi. Bà P không liên hệ, thỏa thuận gì với H, việc ông L2 thỏa thuận với H như thế nào bà P không biết, không tham gia và không được hưởng lợi gì. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với ông Trần Văn M, ông Nguyễn Văn T: Quá trình điều tra xác định, ông M, ông T không liên quan đến việc H thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên không đề cập xử lý.

Hội đồng xét xử không xét.

[8] Về án phí: Người tham gia tố tụng phải chịu án phí theo qui định pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[10] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 174; điểm g khoản 1 điều 52; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 38; điều 54 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.” Xử phạt: Nguyễn Thị H 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Về dân sự và xử lý vật chứng:

Áp dụng điều 47, điều 48 của Bộ luật hình sự 2015. Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Về trách nhiệm dân sự: Không có; Về xử lý vật chứng: Không có.

* Về án phí và quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 136; 331; 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Công an ND huyện Mê Linh
  • - Viện kiểm sát ND huyện Mê Linh
  • - Viện kiểm sát NDTPHN
  • - Sở tư pháp HN
  • - Trại giam HN
  • - Thi hành án dân sự huyện Mê Linh
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Ủy ban ND cấp xã nơi bị cáo cư trú
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP;
  • - Bị cáo, Người tham gia tố tụng

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tô Thanh Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 94/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - TP HÀ NỘI về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 94/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - TP HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Hân lừa đảo nhận tiền làm giấy chứng nhận QSD đất sau đó tiêu sài cá nhân
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger