Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHONG THỔ

TỈNH LAI CHÂU

Bản án số: 94/2024/HS-ST

Ngày 02 - 8 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lò Văn Chiên;
  2. Ông Đèo Văn Vĩnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Đoàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đức Hoàng; Bà Khuất Thị T - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 95/2024/TLST-HS, ngày 12 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐXXST-HS, ngày 19 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Sùng A L, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 01/01/1970, tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Bản N, xã H, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Sùng A S, đã chết; mẹ đẻ: Liều Thị S1, đã chết; vợ: Lò Thị M (đã ly hôn), sinh năm 1965; bị cáo có 07 con, con lớn nhất sinh năm 1984, con nhỏ nhất sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/12/2023 đến ngày 09/01/2024 (09 ngày), hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

  2. Họ và tên: Giàng Thị S2, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 15/8/1984, tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Bản M, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Giàng Páo S3, sinh năm 1961; mẹ đẻ: Vàng Thị hiện đang bị áp dụng biên pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

Người phiên dịch cho bị cáo: Anh Lý A H, sinh năm 1995, địa chỉ: Bản S, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu, có mặt.

Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Lê Mạnh H1, là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L, có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Vàng A D, sinh năm 1983, địa chỉ: Bản N, xã H, huyện P, tỉnh Lai Châu, có mặt.

* Những người làm chứng:

Anh Sùng A G1, sinh năm 1999, địa chỉ: Bản N, xã H, huyện P, tỉnh Lai Châu, có mặt.

Chị Triệu Hồng V, sinh năm 1978, địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn P, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt không có lý do.

Anh Bùi Nhất V1, sinh năm 1981, địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn P, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 11 năm 2023, tại khu vực xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu, Sùng A L gặp một người nam giới (Không rõ họ tên, địa chỉ), người này đặt vấn đề mua thuốc lá Trung Quốc với L. L đồng ý, rồi hai người cho nhau số điện thoại, Z để liên lạc, nhắn tin trao đổi về việc mua bán thuốc lá. Hai người thống nhất loại thuốc lá mua bán là “HONGHE” màu trắng đỏ của Trung Quốc, số lượng là 162 cây/giá mua bán là 80.000.000 đồng, người mua sẽ ứng trước cho L số tiền 30.000.000 đồng.

Sau khi thỏa thuận với người đàn ông Trung Quốc, L rủ Giàng Thị S2 cùng đi mua thuốc lá Trung Quốc mang về Việt Nam bán, lãi sẽ chia đều nhau, S2 đồng ý. L đã nhờ số tài khoản của Sùng A G1, (là con trai của Sùng A L) và Triệu Hồng V, cho người mua chuyển tiền ứng trước để mua thuốc lá và rút lấy tiền mặt. Sau khi nhận được 30.000.000 đồng tiền ứng, L đưa cho S2 cầm, đồng thời LS2 mỗi người góp thêm 5.000.000 đồng để đi mua thuốc lá, sau đó S2 đã đổi toàn bộ số tiền 40.000.000 đồng tiền Việt Nam sang tiền Trung Quốc. Ngày 26/12/2023, LS2 mỗi người đi một xe mô tô (Sú đi xe mô tô biển kiểm soát: 25B1 - 819.50; L đi xe mô tô biển kiểm soát: 25B1- 694.05) đến cửa khẩu M1 để sang Trung Quốc mua thuốc lá. Đến cửa khẩu M1, do L không có giấy thông hành, nên đứng bên Việt Nam đợi, S2 sang Trung Quốc mua hết số tiền đã đổi được 162 cây thuốc lá điếu Trung Quốc (Gồm 1620 bao thuốc lá). Để mang thuốc lá về Việt Nam, S2 nhờ người đi làm từ bên Trung Quốc về Việt Nam cầm hộ, mỗi người từ 2 cây đến 20 cây thuốc lá mang về Việt Nam cho L nhận. Do một lần không mang hết được 162 cây thuốc lá về Việt Nam, nên số thuốc lá còn lại Sú gửi tại cửa hàng bên Trung Quốc. Bằng phương thức trên, S2 tiếp tục sang Trung Quốc thêm 02 lần nữa vào ngày 28 và 29/12/2023 để mang toàn bộ số thuốc lá đã mua về Việt thuốc lá bỏ chạy, Cơ quan điều tra đã tổ chức truy đuổi nhưng không bắt được.

Vật chứng, đồ vật, tài liệu đã thu giữ, tạm giữ: (1) 01 bao tải màu vàng bên trong đựng 25 cây thuốc lá; 01 bao tải màu đen bên trong đựng 73 cây thuốc lá; 01 bao tải màu đen bên trong có 03 bao tải màu cam đựng tổng cộng 64 cây thuốc lá (Tổng cộng 162 cây thuốc lá điếu), đều ghi nhãn hiệu HONGHE; (2) 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ đen, biển kiểm soát 25B1 - 694.05; (3) 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu xám, biển kiểm soát 25B1- 819.50, kèm theo 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy, mang tên Giàng Thị S2; (4) 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y93, màu xanh đen thu giữ của Giàng Thị S2; (5) 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO 1904, màu xanh dương thu giữ của Sùng A L.

Kết luận giám định số: 06/KL-KTHS, ngày 03/01/2024, của V2 Bộ C1, kết luận: Toàn bộ 162 (Một trăm sáu mươi hai) cây thuốc lá (Mỗi cây chứa 10 bao, mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) đều mang nhãn hiệu “HONGHE”, không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt, gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “HONGHE”.

Căn cứ vào khoản 1 và Khoản 5, Điều 7 của Thông tư số: 37/2013/TT-BCT, ngày 30/12/2013, của Bộ C2 “quy định nhập khẩu thuốc lá điếu, xì gà”; khoản 6, Điều 3 “hàng hóa nhập lậu” của Nghị định số: 98/2020/NĐ-CP, ngày 26/8/2020, của Chính phủ, quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: Tất cả các mẫu thuốc lá điếu gửi giám định trên đều là thuốc lá điếu không đủ điều kiện để nhập khẩu lưu thông trên thị trường Việt Nam.

Căn cứ Điều 3 và Điều 4 của Thông tư liên tịch số: 05/2013/TTLT-BYT-BCT, ngày 08/02/2013, của Bộ YBộ C2 “Thông tư liên tịch hướng dẫn việc ghi nhãn, in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá”; Điều 3 của Thông tư số: 23/2021/TT-BTC, ngày 30/3/2021, của Bộ T1 “hướng dẫn về in, phát hành, quản lý và sử dụng tem điện tử rượu và tem điện tử thuốc lá”: Tất cả các mẫu thuốc lá gửi giám định trên đều là thuốc lá điếu không được Việt Nam sản xuất để tiêu thụ tại Việt Nam.

Tại bản Cáo trạng số: 55/CT-VKSLC-P1, ngày 10/7/2024, của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Sùng A L và bị cáo Giàng Thị S2 về tội: “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng. Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Các bị cáo Sùng A L, Giàng Thị S2 phạm tội: “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 58, 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Sùng A L mức hình phạt từ 14 (Mười bốn) tháng đến 20 (Hai mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; xử phạt bị cáo Giàng Thị S2 khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị xử lý: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý: Tịch thu tiêu hủy: 03 bao tải màu cam; 01 bao tải màu vàng; 02 bao tải được ký hiệu BAO 1, BAO 2, bên trong 02 bao có tổng cộng 137 cây thuốc lá, đều mang nhãn hiệu “HONGHE”; 03 dây chun màu đen; các vỏ gói, vỏ niêm phong. Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu xám, biển kiểm soát 25B1 - 819.50, kèm theo 01 chìa khóa xe và 01 giấy Chứng nhận đăng ký xe (thu giữ của Giàng Thị S2); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y93, màu xanh đen, trong khay sim có 01 sim thuê bao VIETTEL số thuê bao 0866.949.xxx (thu giữ của Giàng Thị S2); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO 1904, màu xanh dương, trong khay sim có 01 sim thuê bao VIETTEL số thuê bao 0866.907.xxx (thu giữ của Sùng A L). Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen, biển kiểm soát 25B1 - 694.05, kèm theo 01 chìa khóa xe (thu giữ của Sùng A L) và 01 giá để hàng bằng sắt. Đối với 25 cây thuốc lá trích trong tổng số 162 cây thuốc lá thu giữ của các bị cáo đã được gửi đi giám định, không hoàn lại mẫu vật giám định, Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng. Các bị cáo không có tranh luận gì với luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Người bào chữa cho các bị cáo không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ, tặng nhiệm trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và về xử lý vật chứng. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình, xem xét việc bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để giảm nhẹ hình phạt, quyết định hình phạt chính ở mức thấp nhất của khung hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, không áp dụng phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho các bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xin được nhận lại chiếc xe máy là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của mình, ngoài ra, không có yêu cầu gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định [2] Về hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện:

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, các kết luận giám định, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Hồi 18 giờ 30 phút, ngày 31/12/2023, tại khu vực chợ P1, thị trấn P, huyện P, tỉnh Lai Châu, Sùng A L, Giàng Thị S2 đang thực hiện hành vi giao dịch bán hàng cấm là 162 cây thuốc lá (gồm 1620 bao thuốc lá) điếu nhập lậu, là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “HONGHE”, cho 01 người đàn ông không biết rõ tên, địa chỉ thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng. Qua kết quả trưng cầu giám định, xác định được: Toàn bộ 162 (Một trăm sáu mươi hai) cây thuốc lá (Mỗi cây chứa 10 bao, mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) đều mang nhãn hiệu “HONGHE”, không dán “tem điện tử thuốc lá”, không có chữ tiếng Việt, gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “HONGHE”. Tất cả các mẫu thuốc lá điếu trên đều là thuốc lá điếu không đủ điều kiện để nhập khẩu lưu thông trên thị trường Việt Nam và không được Việt Nam sản xuất để tiêu thụ tại Việt Nam.

Các bị cáo đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tính chất tội phạm nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước đối với các loại hàng hóa cấm kinh doanh, các bị cáo ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu đã truy tố các bị cáo về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Các bị cáo cùng nhau thống nhất và cùng thực hiện hành vi phạm tội nên các bị cáo có vai trò đồng phạm, tính chất đồng phạm giản đơn, giữa các bị cáo không có sự câu kết chặt chẽ. Các bị cáo đều là người thực hành, trực tiếp thực hiện tội phạm, trong đó bị cáo Sùng A L là người khởi xướng.

[3] Tình tiết có liên quan trong vụ án:

Đối với Sùng A G1, sinh năm 1999 và Triệu Hồng V, là những người đã cho Sùng A L nhờ số tài khoản chuyển tiền và rút lấy tiền mặt để đi mua thuốc lá điếu từ Trung Quốc về Việt Nam tiêu thụ: Toàn bộ quá trình nhờ số tài khoản chuyển tiền và rút lấy tiền mặt Sùng A L không nói cho G1V biết mục đích nhờ chuyển tiền vào tài khoản và rút lấy tiền mặt để làm gì; Già và V không tham vào việc mua bán thuốc lá điếu nhập lậu với LS2. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L không đề cập xử lý đối với Sùng A G1Triệu Hồng V là đúng quy định của pháp luật.

về đưa cho Sùng A L thì V1 không biết L dùng số tiên trên vào việc gì, không tham vào việc mua bán thuốc lá điếu nhập lậu với LS2. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L không đề cập xử lý đối với Bùi Nhất V1 là đúng quy định của pháp luật.

Đối với Giàng Thị S4, là chủ ki ốt tại chợ P1, thị trấn P, huyện P, tỉnh Lai Châu: Trong quá trình Sùng A LGiàng Thị S2 cất giấu, giao dịch bán thuốc lá điếu Trung Quốc tại ki ốt thì S4 không biết. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L không đề cập xử lý đối với Giàng Thị S4 là đúng quy định của pháp luật.

Về đối tượng nam giới đặt mua thuốc lá điếu Trung Quốc, kết quả điều tra xác định: Người đặt mua sử dụng số thuê bao 0353.600.423. Kết quả tra cứu xác định chủ thuê bao là Trương Quang H2, sinh ngày 30/12/1983, có số chứng minh nhân dân: [...], trú tại Ấp E, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Anh Trương Quang H2 khai vào năm 2011 anh có đăng ký và sử dụng số điện thoại 0353.600.xxx, đến năm 2013 anh không sử dụng số điện thoại trên nữa, hiện nay anh H2 không biết ai sử dụng số điện thoại trên cũng như không cho ai số điện thoại trên. Trương Quang H2 không quen biết Sùng A L, không tham gia vào việc buôn bán hàng cấm. Kiểm tra thông tin người đã gửi số tiền 30.000.000 đồng cho Sùng A L để đặt tiền mua thuốc lá, kết quả xác minh tại ngân hàng TMCP C3 chi nhánh L1, xác định vào hồi 09 giờ 50 phút, ngày 25/12/2023, khách hàng NGUYEN HOAI NAM, số CCCD [...], số điện thoại 0839.863.xxx có đến chi nhánh ngân hàng thực hiện giao dịch chuyển tiền tại quầy số tiền 30.000.000 đồng. Nội dung giao dịch là “NGUYÊN HOẠI NAM CHUYÊN TIỀN”. Kết quả tra cứu trên hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và hệ thống quản lý căn cước công dân không có thông tin công dân NGUYEN HOAI NAM, số CCCD: [...]; kết quả tra cứu số thuê bao tại Trung tâm K xác định số thuê bao 0839.863.478 không có trong cơ sở dữ liệu khách hàng thuộc VNPT. Do các bị cáo không biết rõ tên tuổi, địa chỉ của người đặt mua thuốc lá điếu Trung Quốc nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ.

Đối với những người mà Giàng Thị S2 nhờ cầm hộ thuốc lá điếu Trung Quốc về Việt Nam. Do S2 không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ của những người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ.

Đối với Vàng A D, là người cho Sùng A L mượn chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 25B1-694.05. Khi mượn xe mô tô để vận chuyển thuốc lá điếu Trung Quốc, Sùng A L không nói cho Vàng A D biết, D không tham gia vận chuyển, mua bán thuốc lá điếu nhập lậu cùng LS2. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L không đề cập xử lý đối với Vàng A D là đúng quy định của pháp luật.

[4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thây cân áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có đồng phạm, tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng theo quy định tại các Điều 17, 58 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo được tại ngoại không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Hội đồng xét xử nhận thấy không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội nhưng cần áp dụng hình phạt đủ để giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân và đảm bảo công tác phòng ngừa chung. Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp nên cần chấp nhận. Quan điểm của người bào chữa tại phiên tòa về đề nghị Hội đồng xét xử quyết định ở mức hình phạt thấp nhất trong khung hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo là không đủ sức răn đe đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình các bị cáo khó khăn, các bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với các bị cáo theo khoản 4 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng:

Đối với 03 bao tải màu cam; 01 bao tải màu vàng; 02 bao tải được ký hiệu BAO 1, BAO 2, bên trong 02 bao có tổng cộng 137 cây thuốc lá, đều mang nhãn hiệu “HONGHE”; 03 dây chun màu đen; các vỏ gói, vỏ niêm phong. Đây là những vật cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu xám, biển kiểm soát 25B1 - 819.50, kèm theo 01 chìa khóa xe và 01 giấy Chứng nhận đăng ký xe (thu giữ của Giàng Thị S2); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y93, màu xanh đen, trong khay sim có 01 sim thuê bao VIETTEL, số thuê bao 0866.949.xxx (thu giữ của Giàng Thị S2); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO 1904, màu xanh dương, trong khay sim có 01 sim thuê bao VIETTEL số thuê bao 0866.907.xxx (thu giữ của Sùng A L). Do các bị cáo đã sử dụng các vật chứng này làm công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen, biển kiểm soát 25B1 - 694.05, kèm theo 01 chìa khóa xe (thu giữ của Sùng A L) và 01 giá để hàng bằng sắt, là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Vàng A D1. Do anh D1 không biết việc bị cáo L sử dụng xe làm phương tiện phạm tội, anh D1 xin được nhận lại xe nên cần trả lại xe cho anh D1.

[8] Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 612/QĐ-UBDT, ngày 16/9/2021, của Ủy ban Dân tộc nên được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

  1. Các bị cáo Sùng A L, Giàng Thị S2 phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.

  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 58, 65 của Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Sùng A L: 16 (Mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 32 (Ba mươi hai) tháng, kể từ ngày tuyên án.

    Xử phạt bị cáo Giàng Thị S2: 14 (Mười bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 28 (Hai mươi tám) tháng, kể từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Sùng A L cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục.

    Giao bị cáo Giàng Thị S2 cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục.

    Trong thời gian chấp hành án, các bị cáo thực hiện nghĩa vụ của người chấp hành án theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

  3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy: 03 bao tải màu cam; 01 bao tải màu vàng; 02 bao tải được ký hiệu BAO 1, BAO 2, bên trong 02 bao có tổng cộng: 137 cây thuốc lá (Mỗi cây chứa mười bao, mỗi bao chứa 20 điều thuốc), đều mang nhãn hiệu “HONGHE”; 03 dây chun màu đen.

    Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu xám, biển kiểm soát 25B1 - 819.50, kèm theo 01 chìa khóa xe và 01 giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 25007075, mang số thuê bao 0866907954 (thu giữ của Sùng A L).

    Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Vàng A D: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen, biển kiểm soát 25B1 - 694.05, kèm theo 01 chìa khóa xe và 01 giá để hàng bằng sắt (thu giữ của Sùng A L).

    (Toàn bộ vật chứng hiện đang được lưu tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Tình trạng vật chứng được mô tả cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 14 giờ 00 phút, ngày 16/7/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu).

  4. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo được quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Sở Tư pháp;
  • - VKSND huyện Phong Thổ;
  • - CA huyện Phong Thô (CQĐT, THAHS);
  • - CC THADS huyện Phong Thổ;
  • - Các bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - UBND xã Huổi Luông;
  • - UBND xã Mù Sang;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu: HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 94/2024/HS-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU về buôn bán hàng cấm (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 94/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: các bị cáo phạm tội buônbán hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger