|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 94/2024/HS-ST Ngày: 02-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Quang Bảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Bà Nguyễn Thị Thắm;
- 2/ Bà Nguyễn Kim Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 77/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2024/HSST-QĐ ngày 16/4/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngô Văn H, sinh năm 1990, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú : Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn L, sinh năm 1949 và bà Hách Thị T, sinh năm 1952; bị cáo có vợ tên Ksor P, sinh năm 1997; bị cáo có 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Ngày 24/8/2011, bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá, xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về hành vi “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi thực hiện ngày 26/5/2011, bị cáo chấp hành xong án phí ngày 11/10/2011.
- Ngày 25/4/2013, bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 36 tháng tù về hành vi “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi thực hiện ngày 07/01/2013, tổng hợp hình phạt với bản án ngày 24/8/2011 là 45 tháng tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 07/10/2016 và chấp hành xong án phí 25/4/2013.
- Ngày 27/11/2017, bị cáo bị Toà án nhân dân quận Hà Đông xử phạt 30 tháng tù về hành vi “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi thực hiện ngày 29/9/2017. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/02/2020 và chấp hành xong án phí ngày 08/3/2018.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/12/2023 cho đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Bà Trần Thị H1, sinh năm 1978; HKTT: Khu phố K, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Đặng Hùng Đ. Yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 7/2023, bị cáo Ngô Văn H đến ở trọ tại nhà T thuộc ấp K, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố K, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương) để tìm việc làm, nhưng chưa có việc làm ổn định.
Sáng ngày 03/12/2023, bị cáo đi bộ từ nhà trọ Tư T1 đến quán ăn cách đó khoảng 600m để ăn sáng nhưng quán đóng cửa nên bị cáo quay về. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, khi bị cáo đi về ngang qua nhà của bà Trần Thị H1, bị cáo thấy cửa nhà bà H1 mở cửa trước và nhìn thông ra cửa sau thì không thấy người trong nhà. Lúc này, bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của bà H1 đem bán lấy tiền tiêu xài nên bị cáo đi cặp bên hông nhà bà H1 ra phía sau rồi đi theo cửa sau vào phía trong nhà. Khi đến nhà bếp, bị cáo phát hiện 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 5 màu trắng xanh để trên bàn và bên dưới điện thoại có số tiền 300.000 đồng nên bị cáo lấy cầm trên tay. Vừa lúc này, bà H1 trong phòng ngủ đi ra thấy bị cáo nên truy hô trộm. Bị cáo liền cầm điện thoại và tiền bỏ chạy ra phía sau vườn cây được 01 đoạn khoảng 700 mét thì mệt nên bị cáo nằm xuống bụi cây để trốn nhưng bị ông Đặng Hùng Đ là hàng xóm của bà H1 đuổi theo bắt giữ và giao cho công an phường A, thành phố B. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B giải quyết theo thẩm quyền.
* Vật chứng thu giữ gồm:
- + 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 5;
- + Số tiền 300.000 đồng.
Theo Bản Kết luận định giá tài sản số 163 ngày 06/12/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 5 trị giá 3.800.000 đồng.
* Về xử lý vật chứng: Ngày 12/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, giao trả 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 5 và số tiền 300.000 đồng cho bị hại bà Trần Thị H1.
Tại Cáo trạng số 92/CT-VKSBC ngày 25/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Ngô Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Ngô Văn H từ 10 tháng đến 12 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Ngày 12/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, giao trả 01 điện thoại di động hiệu OPPO Reno 5 và số tiền 300.000 đồng cho bà Trần Thị H1 nên không đề cập xử lý.
- Về trách nhiệm dân sự: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 5 đã thu hồi trả lại cho bị hại và bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập xử lý.
Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng số 92/CT-VKSBC ngày 25/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân nhân thành phố B, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo đã hối hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Theo đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị hại trình bày: Điện thoại di động hiệu Oppo Reno 5 và số tiền 300.000 đồng là của bà. Ngày 12/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B đã giao trả 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 5 và số tiền 300.000 đồng cho bà. Nay bà không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Bà đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, đề nghị Tòa án căn cứ lời khai để xét xử vắng mặt bà.
Theo đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, người làm chứng trình bày: Ông đã có lời khai trong hồ sơ vụ án đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại, lời khai người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 07 giờ ngày 03/12/2023, tại nhà của bị hại bà Trần Thị H1 thuộc khu phố K, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương bị cáo Ngô Văn H đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 5 trị giá 3.800.000 đồng và số tiền 300.000 đồng của bị hại bà Trần Thị H1. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 92/CT-VKSBC ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tính chất mức độ tội phạm: Tội phạm bị cáo H thực hiện là ít nghiêm trọng do có khung hình phạt đến 03 năm tù, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Tội phạm do bị cáo thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, hành vi trên của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm với mức án tù có thời hạn, tương xứng tính chất, mức độ, hậu quả mà bị cáo đã gây ra, cũng như giáo dục ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
[4] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản chiếm đoạt được thu hồi và giao trả lại cho bị hại. Đó là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
[7] Bị cáo phải chấp hành mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.
[8] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Ngày 12/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, giao trả 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 5 và số tiền 300.000 đồng cho bị hại bà Trần Thị H1 là phù hợp.
[9] Trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[10] Xét ý kiến của Kiểm sát viên về tội danh, mức hình phạt và điều luật áp dụng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[11] Án phí hình sự: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Ngô Văn H 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/12/2023.
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Không đặt ra xem xét.
3. Vể trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.
4. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Ngô Văn H phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
5. Về quyền kháng cáo:
- - Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 02/5/2024).
- - Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA VVăn Quang Bảo |
Bản án số 94/2024/HS-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG về vụ án hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 94/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Văn H
